Nghị định số 283/2026/NĐ-CP ngày 15/7/2026 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, có hiệu lực từ ngày 10/9/2026.

Điểm mới đầu tiên của nghị định là tăng thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lên 2 năm theo quy định tại khoản 4, Điều 3 Nghị định số 283/2026/NĐ-CP. Trong khi trước đây, Điều 5 Nghị định 12/2022/NĐ-CP ngày 17/1/2022 quy định chung về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là 1 năm.
Về phương thức quản lý, Điều 6 Nghị định số 283/2026/NĐ-CP quy định chi tiết quy trình xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử khi bảo đảm đầy đủ các điều kiện kỹ thuật và hạ tầng thông tin. Các quyết định, biên bản và tài liệu xử phạt có thể được gửi qua địa chỉ thư điện tử đã đăng ký của cá nhân hoặc đại diện tổ chức, qua ứng dụng định danh quốc gia hoặc tài khoản định danh điện tử xác thực mức độ 2 trở lên, qua tin nhắn SMS tới số điện thoại thông báo, hoặc chuyển trực tiếp đến thư điện tử của cơ quan thu tiền phạt và các đơn vị liên quan.
Liên quan đến nguyên tắc áp dụng mức phạt, khoản 3 Điều 7 Nghị định số 283/2026/NĐ-CP quy định hộ kinh doanh và hộ gia đình vi phạm sẽ bị áp dụng mức phạt tiền tương tự như đối với cá nhân. Đồng thời, khoản 4 Điều 7 Nghị định số 283/2026/NĐ-CP làm rõ nguyên tắc xử lý vi phạm nhiều lần, theo đó cá nhân, tổ chức vi phạm nhiều lần sẽ bị xử phạt về từng hành vi độc lập, trừ trường hợp các hành vi vi phạm về kinh phí công đoàn, chậm đóng hoặc trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp xảy ra ở các thời điểm khác nhau chưa bị xử lý và còn thời hiệu thì chỉ phạt một hành vi kèm tình tiết tăng nặng vi phạm nhiều lần.
Điều 12 Nghị định số 283/2026/NĐ-CP quy định mức phạt tiền từ 1 đến 2 triệu đồng đối với người lao động không cung cấp, cung cấp không đầy đủ hoặc không chính xác thông tin làm căn cứ đăng ký lao động.
Đối với các vi phạm về chậm đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp, Điều 43 và Điều 45 Nghị định số 283/2026/NĐ-CP áp dụng hình thức phạt cảnh cáo đối với số tiền vi phạm dưới 400.000 đồng tính tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính. Đồng thời quy định mức tiền phạt cụ thể trường hợp không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp trong hoặc sau 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn nhưng không thuộc trường hợp trốn đóng.
Đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp, Điều 44 và Điều 46 Nghị định số 283/2026/NĐ-CP đã ban hành bảng khung phạt cụ thể. Trường hợp người sử dụng lao động không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người tham gia sau 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định, mức phạt trốn đóng bảo hiểm xã hội được chia thành các bậc tùy theo số lượng người lao động bị vi phạm.
Ngoài ra, hành vi đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định hoặc không đóng, đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký sau 60 ngày kể từ ngày đóng chậm và đã được đôn đốc theo Điều 35 Luật Bảo hiểm xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị phạt tiền từ 18 - 20% tổng số tiền trốn đóng, với mức tối đa không vượt quá 75 triệu đồng cho từng loại quỹ bảo hiểm.
TRẦN OANH