Sửa đổi Bộ luật Hình sự phải rõ căn cứ buộc tội, đúng ranh giới trách nhiệm, bảo vệ hoạt động hợp pháp và xây dựng chính sách khoan hồng gắn với việc tự nguyện nhận tội, khắc phục hậu quả.

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, sáng 27/10, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự (sửa đổi).

Phát biểu mở đầu phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định nhấn mạnh đây là dự án đặc biệt quan trọng, có tính nền tảng, trung tâm trong hệ thống pháp luật. Bên cạnh các quy định cụ thể, Bộ luật còn chứa đựng những nguyên tắc cơ bản có giá trị chi phối, định hướng nhiều văn bản pháp luật khác.
Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị đại biểu tập trung vào những vấn đề còn ý kiến khác nhau, nêu rõ quan điểm và đề xuất phương án chỉnh lý cụ thể, nhất là các nội dung cần bảo đảm đồng bộ, thống nhất với những luật liên quan.
Góp ý về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, đại biểu Phan Thị Thùy Linh (Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa) đánh giá dự thảo đã đi đúng hướng khi cá thể hóa trách nhiệm của từng người và tháo gỡ những vướng mắc về tư cách pháp lý. Tuy nhiên, để quy định được áp dụng thống nhất, công bằng, cần làm rõ căn cứ xác định trách nhiệm của pháp nhân và cá nhân liên quan.
Tại khoản 3 Điều 78, dự thảo xác định một trong những điều kiện quy trách nhiệm hình sự là có “sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại.” Theo đại biểu, cần làm rõ sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận được xác định qua quyết định, hành vi của cá nhân hay bộ phận nào, căn cứ vào thẩm quyền nào. Chỉ riêng quan hệ lao động, chức danh quản lý hoặc lợi ích mà pháp nhân có được từ hành vi phạm tội chưa đủ để quy trách nhiệm hình.
Đối với việc áp dụng hình phạt với cá nhân phạm tội trên danh nghĩa pháp nhân, đại biểu cho rằng trách nhiệm của từng người phải được xác định dựa trên hành vi, lỗi và vai trò thực tế, phù hợp với hướng quy định tại khoản 2 Điều 84. Chức danh không thể thay thế căn cứ chứng minh trách nhiệm; cần xem xét đầy đủ vai trò của người thực tế quyết định, trực tiếp chỉ đạo hoặc tổ chức thực hiện hành vi phạm tội.

Yêu cầu làm rõ căn cứ và phạm vi trách nhiệm cũng được đại biểu Nguyễn Ngọc Việt (Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội) đặt ra đối với quy định về tội vi phạm quy định về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa tại Điều 190.
Đại biểu ghi nhận mục tiêu chống gian lận, bảo vệ người tham gia thị trường, nhưng cho rằng điểm đ khoản 1 Điều 190 còn có phạm vi rộng khi đề cập đến việc tổ chức, thực hiện hoặc làm trung gian cho giao dịch tài sản mã hóa để thực hiện hành vi trái pháp luật.
Theo đại biểu, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp kiến nghị cân nhắc chưa bổ sung quy định này trong bối cảnh thị trường còn thí điểm. Trong khi đó, báo cáo giải trình đề nghị giữ quy định, đồng thời thừa nhận có chủ thể trung gian không nhận thức được mục đích của tội phạm khác.
Từ đó, đại biểu đặt vấn đề: nếu khó chứng minh vai trò đồng phạm, điều kiện về lỗi của tội danh độc lập cần được quy định ra sao? Ngưỡng thu lợi hoặc thiệt hại không thể thay thế yếu tố lỗi. Nếu ranh giới pháp lý thiếu rõ ràng, doanh nghiệp có thể từ chối cả những giao dịch hợp pháp để phòng vệ, làm suy giảm hiệu quả của cơ chế thí điểm minh bạch.
Đại biểu viện dẫn Nghị quyết số 68-NQ/TW về yêu cầu phân định rạch ròi trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hành chính, dân sự trong lĩnh vực kinh tế, đồng thời kiến nghị:
“Nghị quyết số 68-NQ/TW yêu cầu phân định rạch ròi trách nhiệm hình sự với hành chính và dân sự trong lĩnh vực kinh tế. Tôi đề nghị chỉnh lý riêng điểm đ khoản 1 Điều 190: xác định cụ thể hành vi bị cấm, yếu tố lỗi, quan hệ với khoản thu lợi hoặc thiệt hại; loại trừ hoạt động trung gian hợp pháp tuân thủ thí điểm. Nếu chưa làm rõ được, nên tạm chưa quy định riêng điểm đ để tiếp tục đánh giá, trong khi các hành vi đã cấu thành tội phạm khác vẫn được xử lý,” đại biểu kiến nghị.

Với tội phạm trên không gian mạng, đại biểu Phan Thị Thùy Linh đánh giá việc cấu trúc các tội phạm theo chuỗi hành vi, từ chuẩn bị, tổ chức đến thực hiện, là cách tiếp cận mới, phù hợp với sự phát triển của công nghệ và thực tiễn đấu tranh với các vụ tống tiền quy mô lớn trên mạng.
Đối với tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản qua mạng tại Điều 157 chưa thuộc danh mục được xử lý từ giai đoạn chuẩn bị theo Điều 14, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát kỹ. Theo đại biểu, trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, các đối tượng có thể chuẩn bị bằng cách mua gom tài khoản ngân hàng, mua SIM không chính chủ, dựng website giả mạo. Nếu có cơ sở ngăn chặn từ giai đoạn chuẩn bị, thiệt hại có thể được phòng ngừa trước khi tiền của người dân bị chuyển đi.
Tuy nhiên, mở rộng khả năng xử lý từ sớm cũng cần phân biệt rõ hành vi phạm tội với hoạt động kỹ thuật hợp pháp. Góp ý khoản 1 Điều 276, đại biểu đề nghị làm rõ sự khác biệt giữa công cụ được sử dụng để phạm tội và công cụ phục vụ hoạt động bảo mật.
Theo đại biểu, cùng một phần mềm, chuyên gia bảo mật có thể sử dụng để kiểm thử hệ thống, trong khi tin tặc dùng để xâm nhập. Dự thảo xác định dấu hiệu định tội là thiết bị, phần mềm “được thiết kế hoặc chỉnh sửa có tính năng chủ yếu để thực hiện tội phạm”, được đại biểu đánh giá là tiêu chí xác đáng. Tuy nhiên, cần làm rõ thêm mục đích phạm tội của người thực hiện, bởi không thể chỉ căn cứ vào tính năng kỹ thuật của công cụ để kết luận về mục đích phạm tội.
Đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 276 quy định loại trừ đối với hoạt động nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin mạng được chủ hệ thống thông tin phân quyền hoặc thực hiện theo hợp đồng hợp pháp.
“Cụ thể, tôi đề nghị bổ sung tại Điều 276 một quy định loại trừ: hoạt động nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin mạng được chủ hệ thống thông tin phân quyền hoặc thực hiện theo hợp đồng hợp pháp không thuộc trường hợp sử dụng vào mục đích trái pháp luật. Theo đó, chúng ta cần xử lý nghiêm hành vi cố ý phạm tội trên không gian mạng, tách biệt rõ với hành vi thử nghiệm như tấn công giả định… hợp pháp và đúng quy định, để bảo vệ đội ngũ an ninh mạng đất nước đang rất cần”, đại biểu Phan Thị Thùy Linh đề nghị.

Với yêu cầu xử lý nghiêm và xác định rõ căn cứ buộc tội, đại biểu Lê Văn Đông (Đoàn ĐBQH thành phố Hồ Chí Minh) tán thành quy định về chính sách khoan hồng đối với người tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt tại khoản 1, khoản 2 Điều 57 dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi).
Theo đại biểu, quy định này bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với chế định thủ tục tố tụng tương ứng tại Chương 31 dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) đã được cấp có thẩm quyền kết luận. Đây không chỉ là quy định mang tính kỹ thuật lập pháp mà còn là bước tiến nhân văn của tư pháp hình sự hiện đại.
Để hoàn thiện chính sách, đại biểu đề nghị trước hết phải xác định rõ bản chất pháp lý và mục tiêu riêng của việc tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt được đề nghị. Cơ chế này không đồng nhất với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: nếu tình tiết giảm nhẹ là căn cứ để Tòa án cá thể hóa hình phạt, thì việc tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt còn thể hiện sự thừa nhận trách nhiệm, hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng và chấp nhận hình phạt theo điều kiện luật định.

Vì vậy, theo đại biểu, khoản 1 Điều 57 cần xác lập đây là một căn cứ khoan hồng riêng gắn với thủ tục tố tụng đặc biệt, tạo động lực để người phạm tội chủ động hợp tác và tự nguyện chấp nhận trách nhiệm hình sự.
Đại biểu cũng đề nghị chính sách cần được phân hóa theo mức độ, với điều kiện và giới hạn cụ thể tại khoản 1 và khoản 2 Điều 57. Người tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt có thể được xem xét mức khoan hồng phù hợp; trường hợp tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả cần được xem xét mức khoan hồng cao hơn theo khoản 2. Cách thiết kế này vừa khuyến khích người phạm tội chủ động sửa chữa hậu quả, vừa góp phần bảo vệ quyền lợi của người bị hại.
Một mục tiêu quan trọng khác là thúc đẩy công lý thực chất, phục hồi những lợi ích bị xâm hại và hàn gắn các quan hệ xã hội bị tội phạm tác động. Theo đại biểu, hiệu quả tư pháp không chỉ nằm ở việc vụ án được giải quyết nhanh chóng, đúng pháp luật mà còn ở khả năng khắc phục hậu quả, bù đắp cho người bị hại, củng cố niềm tin vào công lý và tạo điều kiện để người phạm tội tái hòa nhập cộng đồng.
Tuy nhiên, chính sách khoan hồng phải đi cùng các điều kiện bảo đảm chặt chẽ. Đại biểu nhấn mạnh việc nhận tội phải hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với chứng cứ khách quan; lời nhận tội không thay thế trách nhiệm chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng và không thể là chứng cứ duy nhất để kết tội, buộc tội. Quy định về giảm hình phạt trong trường hợp tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt cần được thiết kế đồng bộ với cơ chế tố tụng hình sự tương ứng.
Đại biểu Lê Văn Đông nhấn mạnh: “Không thể thiết kế một thủ tục tố tụng đặc biệt yêu cầu người phạm tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt nhưng lại không thiết kế một chính sách khoan hồng riêng đủ sức khuyến khích để họ lựa chọn”.
Theo TTXVN