Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường, ngành nông nghiệp Hải Phòng chủ động rà soát, chuẩn hóa và tăng cường giám sát mã số vùng trồng.
.jpg)
Mã số vùng trồng là điều kiện quan trọng để nông sản tiếp cận các thị trường có yêu cầu cao. Không chỉ giúp xác định nguồn gốc sản phẩm, mã số còn gắn với quy trình sản xuất, kiểm soát dịch hại, bảo đảm an toàn thực phẩm và khả năng truy xuất nguồn gốc tại từng vùng nguyên liệu.
Cuối năm 2025, Hải Phòng có 475 mã số vùng trồng, với tổng diện tích 3.320 ha. Trong đó, 270 mã số phục vụ xuất khẩu và 205 mã số phục vụ tiêu thụ trong nước. Các loại cây trồng được cấp mã số khá đa dạng, gồm vải thiều, ổi, chuối, cà rốt, dưa hấu… Đây là những sản phẩm có lợi thế về sản xuất hàng hóa, có khả năng tham gia chuỗi cung ứng và tiếp cận các phân khúc thị trường có giá trị cao. Thành phố cũng có 10 cơ sở được cấp 38 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu.
Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng chặt chẽ của thị trường, điều kiện duy trì mã số vùng trồng cũng được nâng lên. Thực hiện chuẩn hóa, chuyển đổi mã số sang định dạng mới theo Nghị định 38 của Chính phủ quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất, mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói, Hải Phòng đã rà soát toàn bộ hệ thống mã số.
Qua rà soát, đánh giá, thành phố cấp lại 270 mã số cho 141 vùng trồng, duy trì 38 mã số cơ sở đóng gói và thu hồi 205 mã số không còn phù hợp với điều kiện mới.
.jpg)
Việc thu hồi mã số không đơn thuần là giảm về số lượng, mà cho thấy công tác quản lý đang chuyển từ mở rộng diện tích sang chú trọng chất lượng và tính bền vững của từng vùng sản xuất. Những vùng không còn đáp ứng điều kiện cần được rà soát, điều chỉnh hoặc đưa ra khỏi hệ thống, tránh ảnh hưởng đến các vùng trồng đang duy trì tốt.
Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp xã An Thành đã chủ động đề xuất hủy mã số vùng trồng dưa hấu. Theo ông Trần Văn Lượng, Giám đốc hợp tác xã, trước đây, khoảng 25 ha dưa hấu của xã được cấp một mã số vùng trồng. Có mã số, sản phẩm thuận lợi hơn trong tiêu thụ và được các cơ sở thu mua ưu tiên lựa chọn. Tuy nhiên, hiện vùng sản xuất không còn đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo yêu cầu mới. Một số hộ không còn duy trì sản xuất tập trung, gây khó khăn cho việc tổ chức vùng nguyên liệu, giám sát quy trình canh tác và truy xuất nguồn gốc.
Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Cẩm Văn ở xã Tuệ Tĩnh đang duy trì 3 mã số vùng trồng cà rốt xuất khẩu, với tổng diện tích hơn 50 ha. Ông Phạm Văn Mịch, Giám đốc hợp tác xã, ví mã số vùng trồng như “giấy thông hành”, giúp sản phẩm cà rốt thuận lợi hơn khi xuất khẩu. Tuy nhiên, để duy trì “giấy thông hành” này, người sản xuất phải tuân thủ nhiều yêu cầu trong suốt quá trình canh tác.
Các vùng sản xuất phải được tổ chức tập trung, thực hiện quy trình theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP; ghi chép đầy đủ quá trình sản xuất, sử dụng vật tư nông nghiệp và xây dựng nhật ký truy xuất điện tử. Việc được cấp mã số vùng trồng mới chỉ là điều kiện cần, quan trọng hơn là phải duy trì các tiêu chuẩn trong suốt quá trình sản xuất. Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với các địa phương, hợp tác xã và hộ nông dân khi tham gia chuỗi sản xuất hàng hóa.
Mã số vùng trồng mang lại lợi ích rõ rệt cho sản xuất và tiêu thụ nông sản, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu cao đối với công tác quản lý. Nếu không được kiểm soát chặt chẽ, có thể xảy ra tình trạng sử dụng sai mã số, mượn hoặc cho thuê mã số để đưa sản phẩm không thuộc vùng được cấp mã vào chuỗi xuất khẩu.
Bên cạnh đó, vùng trồng sau khi được cấp mã số nhưng không duy trì điều kiện kỹ thuật, kiểm soát không tốt dịch hại hoặc vi phạm quy định về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm của nước nhập khẩu cũng có thể ảnh hưởng đến uy tín của cả vùng sản xuất.
Vì vậy, quản lý mã số vùng trồng không thể chỉ dừng ở khâu cấp mã mà cần được thực hiện thường xuyên trong suốt quá trình sản xuất và tiêu thụ.
.jpg)
Thời gian qua, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng phối hợp với các địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói trên địa bàn. Đến đầu tháng 9/2026, các địa phương đã giám sát 64 vùng trồng và 2 cơ sở đóng gói. Bên cạnh kiểm tra của cơ quan chuyên môn, các đơn vị được cấp mã số cũng chủ động thực hiện tự giám sát.
Theo bà Lương Thị Kiểm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng, mã số vùng trồng không chỉ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản, tạo thuận lợi cho xuất khẩu mà còn giúp bảo đảm tính minh bạch và uy tín trong chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, công tác quản lý vẫn còn nhiều khó khăn. Các quy định về mã số vùng trồng ngày càng chặt chẽ và thường xuyên được cập nhật, trong khi trình độ sản xuất, điều kiện canh tác, khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin giữa các hộ dân chưa đồng đều.
Duy trì từng mã số cũng là giữ uy tín cho nông sản Hải Phòng. Vì vậy, thay vì chú trọng số lượng, các địa phương cần tập trung nâng cao chất lượng vùng trồng, duy trì nghiêm các điều kiện sản xuất và chủ động giám sát ngay từ cơ sở. Đây là nền tảng để nông sản địa phương đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường, từng bước nâng cao giá trị sản xuất.
DŨNG CƯỜNG