Sông Kinh Thầy mang phù sa bồi đắp những vùng đất ven sông và lưu giữ nhiều lớp trầm tích lịch sử và văn hóa.

Chiều xuống bên ngã ba Lấu Khê, mặt sông Kinh Thầy mở ra mênh mang giữa những bãi bờ. Dòng nước vẫn lặng lẽ trôi qua những vùng đất từng chứng kiến nhiều biến động của lịch sử. Hôm nay, nơi thượng nguồn Kinh Thầy thuộc phường Chí Linh, phía đối ngạn là xã Hợp Tiến, những câu chuyện gắn với dòng sông vẫn được lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Sông Kinh Thầy có chiều dài khoảng 45 km, bắt đầu từ ngã ba Lấu Khê, nơi dòng Lục Đầu chia nước thành hai nhánh Thái Bình và Kinh Thầy, rồi chảy qua nhiều vùng đất trước khi hợp lưu với hệ thống sông lớn ở phía Đông. Trong lịch sử, đây từng là tuyến đường thủy quan trọng nối vùng biển Đông Bắc với trung tâm đồng bằng Bắc Bộ. Những chuyến thuyền xuôi ngược trên dòng sông, tạo nên một không gian giao thương nhộn nhịp.
Theo nhà sử học Tăng Bá Hoành, tên gọi “Kinh Thầy” xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, gắn với cuộc cải cách hành chính của người Pháp. Trước đó, dòng sông từng có nhiều tên gọi khác nhau như Trần Xá, Thủ Chân hay Sài Giang, tùy theo vùng đất mà dòng sông chảy qua. Dù mang tên nào, Kinh Thầy vẫn là dòng sông gắn bó với đời sống và lịch sử của cư dân ven sông.
Dòng sông còn gắn với những câu chuyện lịch sử của dân tộc, đặc biệt là dấu tích của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông thời Trần.
Ngay trên vùng đất ven sông, hình ảnh Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư từng đội nón lá, mặc áo ngắn, chèo thuyền bán than đã trở thành câu chuyện được nhiều thế hệ nhắc nhớ. Sau khi được phục chức, am hiểu địa hình sông nước vùng Đông Bắc, ông cùng quân sĩ lập chiến công lớn trong trận Vân Đồn - Cửa Lục, góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ ba.
Tên tuổi vị tướng nhà Trần vẫn gắn với vùng đất này, trong đó có đền Gốm và địa danh Nhân Huệ xưa, nay thuộc phường Chí Linh.

Không xa ngã ba Lấu Khê là vũng Trần Xá. Đây từng là nơi diễn ra hội nghị các vương hầu, khanh tướng nhà Trần bàn kế đánh giặc. Câu chuyện Trần Quốc Toản không được dự bàn việc nước, bóp nát quả cam vua ban rồi trở về tập hợp lực lượng cũng được gắn với vùng đất này.
Cuối thế kỷ XIX, vùng cù lao giữa sông Kinh Thầy và Kinh Môn, với những dãy núi đá vôi và hang động, từng là căn cứ của Đốc Tít và nghĩa quân chống Pháp.
Sau đó, hình ảnh nữ anh hùng Mạc Thị Bưởi với những hoạt động gan dạ, bí mật trong lòng địch cũng trở thành một phần ký ức lịch sử của vùng đất.
Những câu chuyện ấy cho thấy mỗi khúc sông đều có thể là một trang sử, nơi cảnh quan tự nhiên gắn với con người và những sự kiện đã diễn ra qua nhiều thời kỳ.
Bên cạnh lớp trầm tích lịch sử là còn là huyền tích, tín ngưỡng. Sự tích về chàng trai Kinh Thầy diệt Rồng Đen rồi dùng tay xẻ đất tạo thành dòng sông được lưu truyền như một cách lý giải dân gian về nguồn gốc tên gọi.
Theo truyền thuyết, Rồng Đen sau khi bị đánh bại hóa thành dãy núi dọc vùng Kinh Môn, còn đỉnh An Phụ được hình dung như phần đầu rồng với hai mắt là hai giếng Ngọc.

Trên những vùng đất thuộc lưu vực sông Kinh Thầy còn xuất hiện nhiều truyền thuyết và huyền sử linh thiêng khác. Có thể kể đến như huyền sử làng An Mô, chuyện Cồn Kiếm trước đền Kiếp Bạc, sự tích hai ngôi đền thờ Nam Tào, Bắc Đẩu hay truyện Cóc kiện Trời gắn với huyền sử Ngũ Đài Sơn.
Nếu lịch sử tạo cho Kinh Thầy chiều sâu thì đời sống cư dân ven sông lại bồi đắp cho dòng chảy ấy những sắc màu văn hóa phong phú.
Từ xa xưa, Kinh Thầy đã là tuyến đường thủy quan trọng. Những bến sông là nơi thuyền bè qua lại, không gian giao lưu, trao đổi hàng hóa. Từ ngã ba Lấu Khê xuôi xuống khu vực cầu Bình từng có hàng loạt làng gốm, lò gốm cổ như Kiệt Đặc, Kiệt Thượng, làng Gốm. Nhiều lò gốm được dựng gần bãi sông để thuận tiện vận chuyển sản phẩm. Những mảnh gốm và dấu tích đáy lò được phát hiện trên một số bãi sông cho thấy từng có một nền sản xuất gốm phát triển bên dòng Kinh Thầy. Ngay tên gọi đền Gốm cũng là một dấu ấn gợi nhắc về nghề thủ công từng hưng thịnh nơi đây.

Dòng Kinh Thầy uốn lượn giữa những cánh đồng, núi đá và làng mạc. Nằm cách bờ sông không xa, động Kính Chủ trong dãy Dương Nham từ lâu được biết đến như một thắng cảnh nổi tiếng. Núi đá soi bóng xuống dòng sông, tạo nên thế sơn thủy hữu tình. Chính cảnh sắc ấy từng thu hút nhiều tao nhân mặc khách trên hành trình từ kinh thành Thăng Long xuôi theo đường thủy. Họ dừng chân, đề thơ lên vách đá, để lại hệ thống văn bia ma nhai có giá trị đặc biệt, được xếp hạng bảo vật quốc gia.
Ở phía bên kia sông là vùng núi Nhẫm Dương, nay thuộc phường Nhị Chiểu. Trong lòng núi còn hệ thống hang động, nhũ đá và nhiều di vật cho thấy dấu tích cư trú lâu đời của người Việt cổ. Những phát hiện khảo cổ tại đây góp thêm một lớp trầm tích quan trọng, đưa câu chuyện về vùng đất ven Kinh Thầy trở về với thời kỳ rất xa trong lịch sử cư dân đồng bằng Bắc Bộ.

Sông Kinh Thầy không chỉ hiện diện trong sử sách, truyền thuyết hay những di tích ven sông mà còn đi vào văn học nghệ thuật. Dòng sông được nhắc đến trong thơ ca, nhạc họa với vẻ đẹp vừa gần gũi vừa sâu lắng. Trong bài thơ “Hạt gạo làng ta”, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã viết về vị phù sa của sông Kinh Thầy, đưa tên dòng sông vào một hình ảnh thân thuộc của tuổi thơ và làng quê Việt Nam.
Ngày nay, Kinh Thầy tiếp tục kết nối nhiều vùng đất của Hải Phòng. Dù địa danh, tên gọi hành chính có thay đổi, những di tích, làng cổ, bến sông và câu chuyện về dòng sông vẫn còn được lưu giữ.
Kinh Thầy chảy qua nhiều vùng đất và mang theo nhiều câu chuyện. Từ những bến sông, làng nghề đến núi non, di tích, tất cả góp phần tạo nên bản sắc của vùng đất ven sông. Giữ gìn Kinh Thầy hôm nay cũng là giữ lại những giá trị văn hóa đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
PHƯƠNG LINH