Tin tức

Sửa Luật An toàn thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người dân

PV • 22/09/2026 10:44

Đại biểu Quốc Hội Nguyễn Ngọc Sơn (Hải Phòng) nhấn mạnh mục tiêu cuối cùng của việc sửa Luật An toàn thực phẩm phải hướng tới để người dân được ăn thực phẩm an toàn hơn.

00:00

nguyen-ngoc-son.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sơn, Uỷ viên hoạt động chuyên trách tại Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng.

Nhìn lại toàn bộ dự án luật bằng 3 phép thử

Theo Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội, Quốc hội sẽ xem xét dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ II sắp tới.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sơn, Uỷ viên hoạt động chuyên trách tại Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng đồng tình với việc sửa đổi toàn diện Luật An toàn thực phẩm năm 2010.

Đại biểu cho rằng, việc sửa đổi lần này cần xác định rõ triết lý quản lý của luật là quản lý nguy cơ chứ không phải quản lý hồ sơ, đặc biệt xem lại tính logic của việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Bài học của Nghị định 46 cho thấy phải đánh giá khả năng thực thi trước khi thay đổi chính sách, không phải sau khi chính sách đã có hiệu lực.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cũng đề nghị xem xét lại mô hình “một đầu mối” theo hướng một đầu mối chịu trách nhiệm, chứ không chỉ một đầu mối hành chính. Điều đại biểu băn khoăn nhất là chúng ta đang kỳ vọng quá nhiều vào hậu kiểm trong khi nguồn lực cho hậu kiểm chưa tương xứng. Cần thiết kế lại quan hệ giữa giảm thủ tục và tăng trách nhiệm; đồng thời, dành sự quan tâm đặc biệt cho bếp ăn tập thể và chính quyền cấp xã.

Nhấn mạnh cần nhìn lại toàn bộ dự án luật bằng 3 phép thử, một sản phẩm có nguy cơ cao có được phát hiện sớm hơn không; một doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc có giảm được chi phí tuân thủ thực chất không; khi xảy ra sự cố, có xác định được trong vài giờ sản phẩm từ đâu đến, đã bán ở đâu và ai chịu trách nhiệm hay không?

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn lưu ý bài học lớn của những năm vừa qua là không nên lựa chọn hoặc tiền kiểm thật chặt, hoặc buông hoàn toàn cho hậu kiểm. Tiền kiểm quá mức có thể tạo chi phí rất lớn nhưng chưa chắc phát hiện được gian lận. Hậu kiểm nếu thiếu dữ liệu, con người và năng lực kiểm nghiệm thì cũng không bảo vệ được người tiêu dùng.

Do đó, điểm cân bằng phải là quản lý dựa trên nguy cơ; doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm; Nhà nước giám sát bằng dữ liệu; kiểm tra tập trung vào đối tượng nguy cơ cao; vi phạm phải bị phát hiện sớm, xử lý đủ sức răn đe.

Mục tiêu cuối cùng của Luật An toàn thực phẩm không phải là Nhà nước quản lý được bao nhiêu hồ sơ mà là người dân ăn thực phẩm an toàn hơn, doanh nghiệp tuân thủ tốt được thuận lợi hơn, còn người gian lận bị phát hiện nhanh hơn và phải trả giá cao hơn cho hành vi vi phạm.

Nhiều mâu thuẫn trong dự thảo luật và nghị định

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đánh giá dự án luật liên quan trực tiếp nhiều đến các quy định tại văn bản quy định chi tiết, đại biểu đã rà soát lại toàn bộ dự thảo Nghị định 54 trang, đối chiếu với dự thảo Luật và nhận thấy nghị định chưa hoàn toàn bám đúng và đủ tinh thần của dự thảo Luật. Nhiều nội dung cụ thể hóa đúng hướng nhưng đồng thời xuất hiện một số quy định đi xa hơn Luật, tự quyết định chính sách mà Luật chưa quyết định, hoặc nội bộ Nghị định còn mâu thuẫn.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn nêu 5 vấn đề lớn đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu.

Thứ nhất, nghị định đang “quyết định hộ Luật” về mô hình một đầu mối quản lý an toàn thực phẩm. Dự thảo Luật chỉ quy định “cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trung ương” chịu trách nhiệm trước Chính phủ và giao Chính phủ quy định chi tiết; tức mô hình cụ thể vẫn chưa được khóa trong Luật. Tuy nhiên, nghị định lại gần như xác lập Bộ Y tế là đầu mối toàn diện trong khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương chủ yếu kết nối dữ liệu, phối hợp, xây dựng quy chuẩn rồi chuyển Bộ Y tế ban hành.

Đây không còn là hướng dẫn kỹ thuật mà về bản chất là lựa chọn mô hình tổ chức và phân định lại thẩm quyền giữa các Bộ. Theo đại biểu, nội dung này phải được quyết định về nguyên tắc trong Luật hoặc ít nhất phải có quyết định rõ về mô hình tổ chức trước khi thiết kế nghị định.

Thứ hai, cơ chế quản lý theo nguy cơ chưa thực sự được thiết kế theo “nguy cơ”, nhiều chỗ vẫn là cơ chế cơ học. Luật xác định quản lý dựa trên phân tích nguy cơ là trục mới nhưng nghị định lại lùi lộ trình phân tích nguy cơ đến 2027 - 2031, đến năm 2031 mới yêu cầu toàn bộ chính sách và phương thức quản lý dựa trên phân tích nguy cơ.

Trong khi đó, ngay từ khi nghị định có hiệu lực, kiểm tra nhập khẩu đã phân thành chặt - thông thường - giảm; tiêu chí chuyển đổi chủ yếu dựa vào “3 lần nhập khẩu liên tiếp đạt yêu cầu trong 12 tháng”, kiểm tra giảm 12 tháng rồi quay lại kiểm tra thông thường. Cách này có thể tái lập đúng điểm yếu trước đây là quản lý nguy cơ nhưng thực tế dựa vào số lần thông quan.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cho rằng một thực phẩm cho trẻ nhỏ và một loại thực phẩm nguy cơ thấp về nguyên tắc vẫn có thể cùng được giảm kiểm tra sau 3 lần đạt. Nghị định chưa quy định đủ rõ phương pháp chấm điểm nguy cơ, dữ liệu đầu vào, trọng số, cơ quan quyết định, thời hạn cập nhật, công khai danh mục nguy cơ cao/thấp và cơ chế doanh nghiệp yêu cầu xem xét lại việc phân loại.

Thứ ba, cơ chế đăng ký/công bố sản phẩm có nguy cơ biến “công bố” thành một hình thức cấp phép trước. Luật đã xác định ba tầng: đăng ký bản công bố đối với nhóm nguy cơ cao; công bố tiêu chuẩn đối với nhóm thông thường; miễn công bố với nhóm thấp hơn.

Trong khi đó, nghị định lại được thiết kế thủ tục đăng ký có thời hạn thẩm định tới 90 ngày, thành lập tiểu ban chuyên môn, có thể lập Hội đồng tư vấn; sau đó mỗi vòng sửa đổi có thể kéo dài 60 ngày, có thể gia hạn đến 120 ngày.

Đáng lưu ý hơn, ngay cả “công bố tiêu chuẩn sản phẩm” về logic phải là doanh nghiệp tự công bố và chịu trách nhiệm thì cơ quan tiếp nhận vẫn có quyền “không đồng ý”, yêu cầu sửa đổi, bổ sung tới hai lần và mất tới 60 ngày để xem xét hồ sơ sửa đổi.

Nếu giữ thiết kế này, cần làm rõ: đây là “công bố” hay là một dạng “đăng ký - thẩm định”? Nếu cơ quan nhà nước có quyền không chấp nhận trước khi hồ sơ được đăng tải thì bản chất đã chuyển sang tiền kiểm. Điều này chưa thật sự phù hợp với tinh thần giảm tiền kiểm, tăng trách nhiệm doanh nghiệp và hậu kiểm.

Thứ tư, điều khoản chuyển tiếp có những mâu thuẫn rất lớn, thậm chí trái trực tiếp với chính nghị định và không khớp thuật ngữ của luật cho thấy chưa được rà soát kỹ. Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cho rằng đây là điểm nghẽn cần yêu cầu chỉnh ngay.

Thứ năm, hệ thống dữ liệu, hậu kiểm và trách nhiệm cấp cơ sở chưa được thiết kế đồng bộ với nhau. Nghị định yêu cầu một số thủ tục phải thực hiện trên môi trường điện tử ngay khi có hiệu lực; cơ sở phải lưu dữ liệu về nguyên liệu, lô sản phẩm, kiểm nghiệm, truy xuất; đồng thời, đặt lộ trình kết nối từ 2028 đến tận 2031.

Tuy nhiên, theo đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, chính việc phân tích nguy cơ - vốn phụ thuộc vào dữ liệu này lại bắt đầu từ 2027. Như vậy phát sinh câu hỏi rất thực chất: Năm 2027 phân tích nguy cơ bằng dữ liệu nào khi nhiều nhóm cơ sở đến 2029 - 2031 mới phải kết nối

Cùng với đó, UBND cấp xã được giao quản lý cơ sở nhỏ lẻ, thức ăn đường phố, dịch vụ ăn uống, chợ… nhưng nghị định chỉ quy định trách nhiệm chung, chưa xác định rõ nhân lực chuyên môn, thẩm quyền lấy mẫu, kinh phí kiểm nghiệm, đầu mối hỗ trợ chuyên môn và quy trình xử lý khi phát hiện nguy cơ. Luật có thể chuyển mạnh sang hậu kiểm nhưng “cánh tay hậu kiểm” gần dân nhất lại chưa được trang bị đủ công cụ.

PV
(0) Bình luận
Sửa Luật An toàn thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người dân