Trong kỷ nguyên phát triển mới, nâng cao năng lực quản trị quốc gia là điều kiện quan trọng để Việt Nam khơi thông nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực tự chủ và hiện thực hóa mục tiêu phát triển đến năm 2045.

Một vấn đề thường được đặt ra trong quản trị quốc gia là nâng cao năng lực dự báo, chủ động nhận diện và xử lý nguy cơ từ sớm. Cần chuyển mạnh từ tư duy xử lý khi vấn đề đã phát sinh sang chủ động dự báo, phòng ngừa và giải quyết ngay từ cơ sở.
Muốn vậy, phải nâng cao chất lượng nắm bắt tình hình, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, phát huy vai trò của chính quyền địa phương và các tổ chức đại diện cho nhân dân. Điều này đòi hỏi cơ chế cảnh báo sớm phải gắn với trách nhiệm xử lý cụ thể, có thời hạn và có kiểm tra kết quả; tránh tình trạng thông tin đã được phản ánh nhưng không được giải quyết hoặc bị đẩy qua nhiều cấp, nhiều cơ quan.
Việc hoàn thiện thể chế, khắc phục khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn cũng hết sức cần thiết. Thể chế chỉ phát huy hiệu quả khi quy định rõ ràng, trách nhiệm minh bạch và chính sách được thực thi nhất quán. Những điểm nghẽn về cơ chế, sự chồng chéo trong phân công nhiệm vụ, tình trạng né tránh trách nhiệm hoặc chậm tháo gỡ vướng mắc có thể làm giảm hiệu lực quản lý, gia tăng chi phí xã hội và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người dân, doanh nghiệp. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, khả thi; nâng cao chất lượng xây dựng chính sách trên cơ sở đánh giá đầy đủ tác động kinh tế - xã hội; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức và người đứng đầu trong quá trình thực hiện.
Đối với Việt Nam, yêu cầu đặt ra là phải gắn chặt chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội; chính sách về việc làm, tiền lương, nhà ở, giáo dục, y tế và an sinh cần được thiết kế đồng bộ, triển khai kịp thời, đúng đối tượng và có cơ chế đánh giá hiệu quả.
Vấn đề liên quan đất đai, môi trường, bồi thường, giải phóng mặt bằng và phân phối lợi ích từ các dự án phát triển cần được xử lý công khai, minh bạch, đúng pháp luật, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
Vì vậy, cần tiếp tục phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng đối thoại giữa chính quyền với người dân, tăng cường công khai thông tin và bảo đảm các cơ chế tiếp nhận, giải quyết kiến nghị hoạt động thực chất. Mọi phản ánh chính đáng phải được xem xét nghiêm túc; quá trình xử lý cần rõ thẩm quyền, thời hạn và trách nhiệm.
Sự phát triển của mạng xã hội và công nghệ số đang làm thay đổi cách thông tin được lan truyền, cách dư luận hình thành và cách các vấn đề xã hội được phản ánh. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực quản trị số, kết hợp chặt chẽ giữa ứng dụng công nghệ, bảo đảm an toàn thông tin và nâng cao chất lượng truyền thông công vụ.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện; đồng thời, các Nghị quyết số: 27-NQ/TW, 28-NQ/TW, 42-NQ/TW và 57-NQ/TW cung cấp cơ sở chính trị quan trọng cho việc hoàn thiện thể chế, đổi mới phương thức lãnh đạo, bảo đảm an sinh xã hội và hiện đại hóa quản trị quốc gia.
Trọng tâm là chuyển từ xử lý tình huống sang chủ động phòng ngừa, từ hoàn thiện chính sách sang nâng cao hiệu quả thực thi, lấy kết quả phục vụ nhân dân làm thước đo. Muốn vậy, cần chuyển mạnh từ tư duy xử lý sự vụ sang quản trị chủ động, lấy dự báo và phòng ngừa làm trọng tâm. Không để kiến nghị kéo dài, bất cập tích tụ hoặc mâu thuẫn lợi ích không được giải quyết trở thành điểm nóng xã hội.
Bên cạnh đó, nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật, kiểm soát quyền lực và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Cùng với hoàn thiện thể chế, phải siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm; khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy công việc hoặc chuyển trách nhiệm giữa các cơ quan. Gắn với đó là đổi mới đánh giá cán bộ, công chức theo vị trí việc làm, sản phẩm và kết quả thực hiện nhiệm vụ; đề cao trách nhiệm người đứng đầu, xử lý nghiêm những trường hợp trì trệ, gây phiền hà hoặc làm ảnh hưởng quyền lợi hợp pháp của người dân và doanh nghiệp.
Phát triển bền vững không chỉ là tạo ra thêm nguồn lực, mà còn là cải thiện chất lượng sống, mở rộng cơ hội phát triển và hạn chế những tổn thương xã hội. Đặc biệt, nâng cao năng lực quản trị quốc gia phải gắn với phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực quan trọng cho phát triển đất nước. Chuyển đổi số phải đi đôi với cải cách quy trình, nâng cao năng lực cán bộ, bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân; nâng cao chất lượng dịch vụ công, giảm thời gian và chi phí cho người dân, doanh nghiệp.
Thực tiễn xã hội tại một số quốc gia phương Tây hiện nay đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực quản trị quốc gia, chủ động nhận diện và xử lý những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển. Đối với Việt Nam, nâng cao năng lực quản trị quốc gia phải được đặt trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực thực thi chính sách và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
PHẠM QUÝ TRỌNG