Thể thao biển đang cho thấy tiềm năng trở thành động lực mới cho du lịch và kinh tế địa phương, song Việt Nam vẫn chưa khai thác hiệu quả lợi thế sẵn có.

Đại hội Thể thao bãi biển châu Á lần thứ 6 tại thành phố Tam Á, đảo Hải Nam, Trung Quốc không chỉ thu hút sự chú ý bởi các cuộc tranh tài mà còn bởi thông điệp rõ ràng từ nước chủ nhà và Hội đồng Olympic châu Á: thể thao bãi biển cần gắn với du lịch, tiêu dùng và kinh tế địa phương, thay vì chỉ là một sự kiện ngắn hạn.
Sau 10 năm gián đoạn kể từ kỳ đại hội tại Đà Nẵng năm 2016, sự trở lại của sân chơi này cho thấy một cách tiếp cận mới, trong đó thể thao biển được nhìn như một phần của hệ sinh thái kinh tế gắn với biển.
Từ góc nhìn đó, câu hỏi đặt ra với Việt Nam không còn là có nên phát triển thể thao biển hay không, mà là vì sao một quốc gia sở hữu hơn 3.260 km bờ biển và khoảng 125 bãi biển vẫn chưa hình thành được một hệ sinh thái thể thao biển ở quy mô quốc gia.
Dữ liệu cho thấy thị trường không hề nhỏ. Năm 2024, Việt Nam đón hơn 17,5 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ khoảng 110 triệu lượt khách nội địa, tổng thu du lịch đạt khoảng 840 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, phần lớn hoạt động vẫn xoay quanh mô hình quen thuộc là nghỉ dưỡng, tắm biển, tham quan, thay vì chuyển sang mô hình du lịch gắn với trải nghiệm thể thao.
Việt Nam từng có cơ hội lớn để tạo bước ngoặt khi đăng cai Đại hội Thể thao bãi biển châu Á năm 2016 tại Đà Nẵng với sự tham gia của 42 quốc gia và vùng lãnh thổ, hơn 2.200 vận động viên. Đoàn chủ nhà giành vị trí nhất toàn đoàn với 139 huy chương, trong đó có 52 huy chương vàng. Tuy nhiên, sau một thập kỷ, dấu ấn để lại chủ yếu vẫn là thành công của một kỳ đại hội, chưa tạo được di sản kinh tế - thể thao dài hạn.
Thực tế cho thấy thể thao biển tại Việt Nam vẫn mang tính chuyên nghiệp khép kín, chưa trở thành một phần sôi động trong đời sống du lịch, chưa tạo được chuỗi giá trị lan tỏa.

Những hạn chế hiện nay chủ yếu đến từ cách tiếp cận. Phát triển biển trong thời gian dài vẫn thiên về nghỉ dưỡng, bất động sản và lễ hội, trong khi thể thao biển chưa được xác định là một trục sản phẩm độc lập trong quy hoạch.
Bên cạnh đó, tư duy “đăng cai xong là kết thúc” khiến nhiều cơ hội bị bỏ lỡ. Trong khi đó, Tam Á đã chuẩn bị từ sớm cho Đại hội năm 2026 bằng cách tổ chức hàng chục sự kiện thể thao mỗi năm để thu hút du khách và tích lũy kinh nghiệm.
Một điểm hạn chế khác là sự phối hợp liên ngành chưa đồng bộ. Để một bãi biển trở thành điểm đến thể thao thường xuyên, cần giải quyết đồng thời nhiều yếu tố như quy hoạch không gian, an toàn cứu hộ, giao thông, môi trường, dịch vụ, bản quyền và khai thác thương mại. Nếu thiếu một mắt xích, hoạt động dễ quay lại quy mô nhỏ lẻ.
Ngoài ra, việc chưa chuyển hóa khán giả thành người tham gia cũng khiến thể thao biển chưa tạo được sức hút bền vững. Nếu không xây dựng được sản phẩm theo hướng trải nghiệm toàn diện, từ thi đấu, nghỉ dưỡng đến tiêu dùng, thể thao biển sẽ tiếp tục chỉ đóng vai trò bổ trợ cho du lịch.
Một vấn đề khác là thiếu hệ thống đo lường hiệu quả phù hợp. Các chỉ số hiện nay chủ yếu tập trung vào lượt khách và doanh thu lưu trú, trong khi giá trị thực của thể thao biển còn nằm ở mức chi tiêu, thời gian lưu trú, tỷ lệ quay lại và tác động lan tỏa đến các ngành dịch vụ khác.
Trong khi đó, theo các tổ chức quốc tế, du lịch thể thao là một trong những phân khúc tăng trưởng nhanh nhất, tạo ra nhiều lớp giá trị từ lưu trú, vận chuyển đến dịch vụ trải nghiệm, huấn luyện và truyền thông. Nhóm du khách gắn với thể thao thường lưu trú dài ngày hơn và có mức chi tiêu cao hơn so với du khách thông thường.
Thể thao biển còn giúp kéo dài thời gian khai thác điểm đến ngoài mùa cao điểm. Các hoạt động như chạy bãi biển, bơi biển, bóng chuyền bãi biển hay chèo ván có thể diễn ra quanh năm, tạo nhịp sống liên tục cho đô thị biển và giảm phụ thuộc vào mùa du lịch.
Thực tế, một số địa phương như Đà Nẵng, Quảng Ninh hay Bình Thuận đã bước đầu triển khai các sản phẩm du lịch gắn với thể thao, nhưng vẫn mang tính cục bộ, chưa hình thành thị trường quốc gia với hệ thống sự kiện và dịch vụ đồng bộ.
Bài học từ Hải Nam khi đăng cai tổ chức ABG 2026 cho thấy, việc đăng cai không chỉ nhằm tổ chức một sự kiện mà là cơ hội quảng bá điểm đến, xây dựng thương hiệu và tạo động lực phát triển kinh tế. Thể thao biển, nếu được định vị đúng, có thể trở thành “động cơ tiêu dùng” cho chiến lược kinh tế biển.
Với lợi thế tự nhiên rõ ràng, cùng định hướng phát triển du lịch biển đảo trong giai đoạn 2021 - 2030, Việt Nam có cơ hội lớn để biến thể thao biển thành một ngành kinh tế dịch vụ mới. Vấn đề còn lại là khả năng chuyển hóa lợi thế tự nhiên thành lợi thế thị trường và hệ sinh thái phát triển bền vững.
TT (tổng hợp)