Danh nhân

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với tầm nhìn giữ biển, giữ nước

THU HƯƠNG • 06/11/2026 09:11

Từ hơn 400 năm trước, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã gửi gắm tầm nhìn chiến lược về biển Đông, nhắc nhở muôn đời giữ biển, giữ nước.

00:00

bien-dong-1.jpg
Toàn cảnh Bến K15 và đảo Hòn Dấu nhìn từ trên cao - nơi lời sấm truyền của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn soi chiếu trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của dân tộc. Ảnh: CTV

Tầm nhìn hướng biển từ lịch sử

Không chỉ là kho báu tài nguyên hay con đường giao thương huyết mạch, biển từ lâu đã trở thành "lớp giáp" an ninh sinh tử quyết định sự thịnh suy của mỗi dân tộc. Chính vị thế chiến lược đặc biệt ấy đã thúc đẩy nhiều quốc gia khởi động cuộc đua “hướng biển” từ rất sớm - một dòng chảy thời đại mà Việt Nam chưa bao giờ đứng ngoài cuộc.

Ông Tăng Bá Hoành, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hải Dương, Chủ tịch danh dự Hội Sử học thành phố Hải Phòng cho biết vào năm 1226, Hoàng Thúc nhà Lý đã vượt biển đến tận Cao Ly (Triều Tiên ngày nay).

Vào thế kỷ XV, Đặng Sỹ và Bùi Thị Hý đã vượt biển buôn bán đồ gốm với Nhật Bản, Trung Quốc, thậm chí với cả phương Tây. Đặc biệt vào thế kỷ XV - XVI, thời Mạc, tính hướng biển trở thành một vấn đề lớn của quốc gia. Triều Mạc đã xây dựng Dương Kinh là kinh đô ven biển, kết hợp giữa trung tâm chính trị, quân sự và định hướng vươn ra biển.

bien-dong-3.jpg
Bức tượng đài Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại đền thờ ông ở xã Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành phố Hải Phòng.

Thế kỷ XVI, trong bối cảnh đất nước chia cắt và biến động nội bộ, Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng trí tuệ và tầm nhìn văn hóa - chính trị sâu sắc đã sớm nhận ra tầm quan trọng tử huyệt của Biển Đông đối với vận mệnh dân tộc. Qua bài "Cự ngao đới sơn", ông đã đúc kết câu thơ bất hủ:“Biển Đông vạn dặm dang tay giữ/ Đất Việt muôn năm vững trị bình/ Chí những phù nguy xin gắng sức/ Cõi bờ xưa cũ tổ tiên mình".

Lời sấm truyền hay chính là đúc kết quy luật lịch sử ấy không chỉ là niềm tin vào thế tựa núi tựa biển của non sông, mà còn là một lời nhắc nhở thế hệ sau về việc phải lấy biển làm trọng, xem sự bình yên của biển Đông là cội nguồn cho sự vững bền của quốc gia.

Trạng Trình không nhìn biển như một khoảng không vô tận ngăn cách, mà xem biển là một phần không thể tách rời của lãnh thổ, là "bức tường thành" tự nhiên bảo vệ độc lập dân tộc. Dưới góc độ văn hóa, đây chính là sự kế thừa và phát triển triết lý dựng nước đi đôi với giữ nước của tổ tiên, từ huyền thoại Lạc Long Quân đưa 50 con xuống biển đến những chiến công hiển hách trên dòng Bạch Đằng giang lịch sử.

Đến triều Lê và triều Nguyễn, Việt Nam đã có đầy đủ bằng chứng xác thực trên cả văn bản, thư tịch cổ trong nước lẫn bản đồ quốc tế khẳng định chủ quyền liên tục đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày nay việc hướng biển, khai thác biển, bảo vệ biển là cũng đã bảo vệ đất nước đã thành một vấn đề quan trọng của đất nước.

Tư tưởng ấy khẳng định một sự thật khách quan: bảo vệ chủ quyền biển đảo không chỉ là nhiệm vụ thời điểm, mà là sự nghiệp lâu dài của muôn đời sau.

Tiếp nối tư tưởng giữ biển, giữ nước

bien-dong-2.jpg
Trong suốt chiều dài lịch sử, Việt Nam luôn đề cao sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Đặt trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, Biển Đông tiếp tục là địa bàn có ý nghĩa chiến lược, tư tưởng của Trạng Trình về tầm nhìn, bản lĩnh và sự chủ động trước thời cuộc vẫn còn nguyên giá trị. Bảo vệ chủ quyền biển đảo ngày nay không chỉ đơn thuần là giữ vững từng tọa độ, từng hòn đảo hay rạn san hô, mà còn là sự kết hợp hài hòa giữa quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế biển bền vững và thực thi pháp luật quốc tế.

Tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm gợi mở rằng: muốn biển Đông "vạn đại toàn an ninh", sức mạnh nội tại của quốc gia phải được củng cố toàn diện. Đó là sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân, là tiềm lực kinh tế biển hiện đại, là năng lực làm chủ khoa học - công nghệ và là thế trận lòng dân vững chắc nơi đầu sóng.

Không chỉ bảo vệ chủ quyền bằng ý chí và lòng tự tôn, Việt Nam hôm nay đang khẳng định chủ quyền bằng sự hiện diện dân sự, bằng những đội tàu đánh bắt xa bờ, bằng các công trình nghiên cứu khoa học và bằng luật pháp quốc tế mà Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982) là cơ sở đặc biệt quan trọng.

Tiến sĩ Đoàn Trường Sơn, nguyên Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Hải Phòng nhận định: “Dường như Trạng Trình nhìn thấy đại cục thiên hạ nghìn năm nên đã khuyên các thế hệ mai sau phải quyết nắm giữ được biển Đông thì đất nước mới thái bình, thịnh trị muôn đời.

Bài thơ 'Cự ngao đới sơn' mang tính dự báo chiến lược và thể hiện tâm thức bám biển, giữ biển của dân tộc ta. Chủ trương của Đảng vươn ra biển làm giàu, giữ vững biển đảo cũng là thực hiện thông điệp về chủ quyền biển đảo trong tư tưởng của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm”.

Bảo vệ chủ quyền biển đảo ngày nay cũng là thực hiện khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển. Tầm nhìn của danh nhân văn hóa, nhà tiên tri Nguyễn Bỉnh Khiêm như một chiếc la bàn lịch sử, tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho lớp lớp thế hệ người Việt - từ những người lính hải quân kiên trung nơi tiền tiêu, những ngư dân bền bỉ bám biển, cho đến những nhà khoa học, nhà chính trị đang ngày đêm cống hiến.

Nhìn ra biển lớn với tâm thế tự tin, tri thức và hòa hiếu, chúng ta không chỉ gìn giữ di sản tổ tiên để lại mà còn viết tiếp câu chuyện thịnh vượng của dân tộc Việt Nam trên Biển Đông muôn đời.

THU HƯƠNG
(0) Bình luận
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với tầm nhìn giữ biển, giữ nước