Đất và người xứ Đông

'Từ điển sống' về gốm cổ làng Quao

TIẾN HUY 06/06/2026 9:00

Nghề làm gốm ở làng Quao có hơn 500 năm thì cụ Hoàng Thị Bé có gần 100 năm chứng kiến.

00:00

hoang-thi-be-01.jpg
Cụ Hoàng Thị Bé như một cuốn "từ điển sống" về nghề làm gốm ở làng Quao.

Gần một thế kỷ đời người, sinh ra, lớn lên trên mảnh đất này, cụ Bé là người làm nghề cao tuổi nhất làng hiện nay, nên cụ cũng giống như một cuốn "từ điển sống" về nghề làm gốm ở làng.

Một thời trên bến, dưới thuyền

Khi trước, sông nhánh của sông Kinh Môn lấn vào đến tận trước cửa nhà cụ Bé bây giờ. Thời hưng thịnh của gốm làng Quao, những nhà ven sông đều có lò gốm. Lúc tấp nập nhất, cả làng có hàng trăm lò đỏ lửa quanh năm. Khi đường bộ chưa phát triển, gần như mọi giao dịch đều qua sông nước, từ mua bán đất vật liệu, tre, củi đốt lò, cho đến xuất hàng. Sông thời ấy nhộn nhịp trên bến, dưới thuyền. Những ngày con nước, thuyền buồm rong vào đến tận làng.

Con sông ấy giờ bồi lắng, chỉ nhỉnh hơn một bờ kênh một chút. Đào xuống vài mét đất ven sông vẫn thấy cơ man nào là gốm vụn - trầm tích của làng gốm cổ chất chồng sau nhiều thế kỷ.

Làng Quao vốn thuộc xã Phú Điền, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cũ, nay là thôn Lâm Xuyên, xã An Phú, thành phố Hải Phòng. Ở tỉnh Hải Dương cũ có 3 làng gốm cổ truyền thì ở huyện Nam Sách trước đây có làng Quao và Chu Đậu, làng còn lại là gốm Cậy ở xã Long Xuyên, huyện Bình Giang cũ. Trong khi gốm Chu Đậu tưởng thất truyền nhưng đã phục hưng và phát triển mạnh, gốm Cậy hoạt động cầm chừng, thì gốm Quao gần như nguội lạnh.

Cụ Bé năm nay 94 tuổi. Ở đợ từ bé, bố làm thợ may, mẹ làm gốm nên 8 tuổi cụ đã biết làm gốm. Sau này cụ Bé và cụ Nguyễn Văn Mừng người cùng làng về chung nhà, bố mẹ chồng cụ cũng làm gốm, vì thế, cụ Bé gắn chặt với nghề mãi đến năm 1997 mới nghỉ. Đó cũng là lúc các lò gốm trong làng lần lượt tắt lửa. Vết tích lò gốm nay cũng không còn, những đồ nguyên vẹn được các bảo tàng tiếp nhận, thành thử vào làng Quao bây giờ, không mấy ai biết đây từng là một làng gốm cổ đỏ lửa suốt mấy trăm năm.

hoang-thi-be-02(1).jpg
Trong nhà cụ Bé hiện không còn đồ gốm nào nguyên vẹn

Theo "Dư địa chí Hải Dương", gốm làng Quao ra đời vào khoảng thế kỷ XV, hưng thịnh nhất là đầu thế kỷ XIX. Câu ví “Thóc An Điền, tiền làng Quao”, để chỉ về sự thịnh vượng mà nghề gốm mang lại cho làng. An Điền cũng là một địa danh của huyện Nam Sách khi trước.

“Lấy anh anh sắm sửa cho/ Anh sắm hai chiếc mũ lò em châm/ Củi thì anh đón thong dong/ Đóng dư nghìn thỏi em nay để dùng/Củi Chũ cho chí củi Thanh”... - những câu ca chợt ùa về trong trí nhớ cụ Bé. Cụ kể: củi Chũ ở vùng Bắc Giang, tre ở vùng Thanh Hóa - đó là những chất đốt tốt nhất để nung gốm. "Thỏi" là thỏi gỗ, gỗ được đóng thành từng thỏi, theo thuyền xuôi về bến bán cho những người làm gốm. Đất làm gốm cũng đóng thành thỏi mang về.

Đất khi ấy được người làng mua ở Khánh Chủ của vùng núi Kinh Môn - cụ Bé kể tiếp. Có lẽ ký ức của một nghệ nhân làng gần trăm tuổi đã dần vụn vỡ, vì vùng Kinh Môn xưa nay chỉ có địa danh Kính Chủ. Mỗi thuyền chở 5 khoang đất, đi từ Kinh Môn vào sáng hôm trước thì về đến làng Quao là sáng hôm sau. Chủ lò huy động người làm ra vận chuyển về sân. Đất được sàng sảy, tôi, quết cho nhuyễn mịn và dẻo như kẹo kéo. Đó là thứ đất duy nhất để làm ra những sản phẩm tốt nhất của gốm làng Quao suốt nhiều thế kỷ...

Chợ Quao to hơn chợ huyện

Được cho là bắt đầu cùng thời với gốm Cậy vào thế kỷ XV và ra đời muộn hơn gốm Chu Đậu khoảng một thế kỷ, gốm làng Quao là dòng gốm duy nhất trong số này không tráng men.

hoang-thi-be-03(1).jpg
Một chiếc chõ đồ xôi đã bị vỡ, do gia đình cụ Bé sản xuất.

Sản phẩm của gốm Quao cũng không đa dạng như gốm Cậy và Chu Đậu mà thuần chất là những vật dụng trong nhà. Ấy là những vật dụng gần gũi như chõ đồ xôi, niêu kho cá, chum đựng nước, bình vôi, ấm đun nước, chậu giặt quần áo, cối giã cua...

Chợ Quao khi ấy, ngoài mua bán, trao đổi nông sản, gia súc, gia cầm thì vị trí quan trọng nhất luôn là các hàng bán gốm và lúc nào cũng đông vui tấp nập. Phần lớn gốm theo thuyền buôn đi các tỉnh, số còn lại được bán ở đây để bán cho bà con quanh vùng. Vì thế, chợ Quao còn đông vui và to hơn chợ huyện. Điều đó cho thấy gốm làng Quao từng có một thời rất được người dân ưa chuộng.

Nghề làm gốm cực khổ, người làm gốm Quao chuyên nghiệp thường không sống thọ, vì lao lực, vì sức khỏe bị ảnh hưởng trong quá trình nung đốt. Nhưng trong câu chuyện kể, cụ Bé luôn tự hào vì mình đã sống gần trọn cuộc đời với cái nghề cực khổ ấy.

hoang-thi-be-04.jpg
Một bộ phận của chiếc bàn xoay làm gốm đã theo cụ Bé gần một thế kỷ để làm ra hàng vạn sản phẩm phục vụ dân sinh.

Làm gốm từ năm 8 tuổi, đến mãi sau này tay yếu, mắt mờ, cụ Bé mới nghỉ. Các lò gốm ở làng Quao chỉ một lần tắt lửa trong thời gian ngắn, đó là trước Cách mạng tháng Tám do bị thực dân gây khó dễ về giao thương nhưng sau cách mạng thì lập tức phục hồi. Năm 1965, Hợp tác xã Gốm Phú Điền ra đời làm vai trò quy tụ, nhưng cũng gặp không ít khó khăn. Nhất là từ khi đồ nhôm, đồ gang, rồi sau này là đồ nhựa ra đời, thì gốm gia dụng làng Quao yếu thế rồi dừng sản xuất.

Năm 1945, cả vùng này có hơn 700 người chết vì nạn đói, nhà mẹ cụ Bé cũng mất 4 - 5 người. Và nghề làm gốm dù không sung túc, thậm chí không bỏ dư ra được đồng nào nhưng đã gồng gánh các gia đình ở làng Quao đi qua thời khốn khó...

Cụ Bé có cả thảy 10 người con, nay còn 6, cũng có người từng làm gốm nhưng không có ai đam mê. Ở làng Quao đến bây giờ, cụ Bé là người lớn tuổi nhất từng làm gốm. Vì thế, những câu chuyện về các công đoạn làm gốm và bức tranh của làng gốm cổ tấp nập ngày nào sẽ dần không còn nữa...

TIẾN HUY
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    'Từ điển sống' về gốm cổ làng Quao