Thuở xưa, Vĩnh Bảo thuộc phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương. Năm 1963, huyện Vĩnh Bảo thuộc thành phố Hải Phòng.
.jpg)
Những lần thay đổi địa giới hành chính
Trước đây, các làng, xã ở Vĩnh Bảo thuộc các huyện Vĩnh Lại (từ đời Trần về trước gọi là Đồng Lợi; thời thuộc Minh, để châu Hạ Hồng quản lãnh, thuộc phủ Tân An; đầu đời Lê đổi tên là Đồng Lại; năm Quang Thuận, đổi tên thành Vĩnh Lại) và Tứ Kỳ, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), đổi phủ Hạ Hồng thành phủ Ninh Giang. Năm Minh Mạng 12 (1831), đổi trấn thành tỉnh, cả nước có 31 tỉnh. Trấn Hải Dương đổi thành tỉnh Hải Dương, còn gọi là tỉnh Đông.
Sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn viết: “Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), đặt phân phủ. Năm thứ 19 (1838), tách huyện Thanh Miện cho đổi lệ vào phủ Bình Giang, đặt thêm huyện Vĩnh Bảo”.
Cũng trong sách này viết: “Huyện Vĩnh Bảo: nằm ở phía Đông Nam; Đông Tây cách nhau 15 dặm, Nam Bắc cách nhau 30 dặm, phía Đông đến địa giới huyện Tiên Minh phủ Nam Sách 5 dặm; phía Tây đến địa giới huyện Phụ Dực, tỉnh Nam Định 12 dặm; phía Nam đến cửa biển Thái Bình 20 dặm; phía Bắc đến địa giới huyện Tứ Kỳ 10 dặm. Năm Minh Mạng thứ 19 (1838), cắt 3 tổng Thượng Am, Đông Am, Ngãi Am thuộc huyện Vĩnh Lại và 5 tổng An Bồ, Viên Lang, Đông Tạ, Bắc Tạ, Can Trì thuộc huyện Tứ Kỳ thành lập huyện này và đặt chức tri huyện. Năm Tự Đức thứ 5 (1852) bỏ tri huyện, do phủ kiêm nhiếp. Lãnh 8 tổng, 67 xã, thôn, huyện lỵ ở tại xã Đông Tạ”.
Đến ngày 21/3/1890, khi tỉnh Thái Bình được thành lập, phần đất từ sông Hoá đến sông Thái Bình của Vĩnh Lại được sáp nhập vào Vĩnh Bảo. Từ đó, Vĩnh Bảo được mở rộng tới 11 tổng.
Thực hiện Sắc lệnh số 63-SL ngày 22/11/1945 về tổ chức, quyền hạn, cách làm việc của Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp (xã, huyện, tỉnh, kỳ) và sự chỉ đạo của cấp trên, Vĩnh Bảo đã tiến hành sáp nhập các xã nhỏ thành xã lớn. Cuối năm 1947, toàn huyện có 36 xã. Năm 1948, huyện có 25 xã. Ngày 2/5/1952, huyện Vĩnh Bảo thuộc tỉnh Kiến An. Năm 1956, huyện có 29 xã. Từ ngày 1/1/1963, huyện Vĩnh Bảo thuộc thành phố Hải Phòng, có 29 xã. Ngày 18/3/1986, thị trấn Vĩnh Bảo được thành lập, huyện Vĩnh Bảo có 29 xã, 1 thị trấn.
Thực hiện chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã giai đoạn 2023 - 2025, huyện Vĩnh Bảo có 15 xã thuộc diện sáp nhập để thành lập 5 xã mới. Huyện còn 19 xã và 1 thị trấn.
.jpg)
Đến ngày 1/7/2025, huyện Vĩnh Bảo không còn, địa bàn hình thành 7 đơn vị hành chính cấp xã mới.
Truyền thống hiếu học trên quê hương quan trạng
Từ nhiều đời nay, huyện Vĩnh Bảo cũ đã trở thành vùng đất nổi tiếng cả nước bởi truyền thống hiếu học và khoa bảng.
Người Vĩnh Bảo tự hào về những đại diện tiêu biểu đã làm rạng danh quê cha đất tổ. Đó là các danh sĩ đỗ đạt cao thời phong kiến: Dương Đức Nhan quê xã Cộng Hiền; Phạm Đức Khản, Đào Công Chính, Nguyễn Duy Tiếu quê xã Cao Minh; Trần Lương Bật, Trần Công Hân quê xã Cổ Am, Đào Văn Hiển, xã Dũng Tiến… Nhiều danh sĩ xuất thân từ Vĩnh Bảo đã có nhiều đóng góp quan trọng cho đất nước: cụ Dương Đức Nhan làm đến chức Hữu thị lang bộ Hình; cụ Đào Công Chính - Tả thị lang bộ Lại; cụ Trần Công Hân - người có công dẹp giặc, tử trận, được truy phong Đông các đại học sĩ; cụ Trần Công Bật, sau khi mất được truy phong Tả thị lang bộ Binh; cụ Đào Văn Hiển - Thượng thư Bộ Hình thời vua Lê Thánh Tông, là một trong những người có công lớn giúp nhà vua xây dựng nên bộ luật Hồng Đức nổi tiếng - một dấu son không thể phai mờ trong lịch sử lập pháp Việt Nam.
Đặc biệt ở thế kỷ XVI, quê hương Vĩnh Bảo có danh nhân văn hóa - trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm - một biểu tượng rực rỡ của sự học và sự thành đạt. Để rồi từ đây, truyền thống hiếu học của Vĩnh Bảo vinh dự mang tên truyền thống hiếu học của quê hương Trạng Trình.

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ra trong một gia đình nho sĩ bình dân ở làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, nay thuộc xã Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành phố Hải Phòng. Ông thi đỗ Trạng nguyên năm 1535, làm quan dưới triều Mạc, được phong tước "Trình Tuyền hầu" rồi thăng tới "Trình Quốc công". Dân gian quen gọi ông là Trạng Trình. Hiện ông được thờ ở cả Văn miếu Mao Điền, xã Mao Điền (phía tây Hải Phòng) và đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm thuộc xã Nguyễn Bỉnh Khiêm (phía đông Hải Phòng).
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phong trào bình dân học vụ là một điểm sáng rực rỡ của Vĩnh Bảo. Sự đồng lòng của người dân Vĩnh Bảo hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết tâm tuyên chiến với giặc dốt. Giai đoạn đầu phát triển hệ thống giáo dục quốc dân, cả huyện chỉ mới xây dựng được một số điểm trường cấp II tại trung tâm huyện và một số nơi nhưng đã quy tụ được rất đông học sinh, kể cả ở những địa phương xa trung tâm.
Vì thế, sự học của quê hương Vĩnh Bảo ngày càng được mở mang. Đội ngũ trí thức, học hành thành tài xuất thân từ quê hương Vĩnh Bảo ngày càng nhiều. Vùng đất Vĩnh Bảo hiện nay có hàng trăm giáo sư, phó giáo sư; nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú; nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú; thầy thuốc ưu tú... Họ là những chuyên gia đầu ngành trong một số lĩnh vực thuộc khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, văn hoá - văn nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế... đã và đang đóng góp quan trọng đối với quê hương, đất nước.
THU HƯƠNG