Ngày 12/8/2026, UBND thành phố Hải Phòng ban hành Quyết định số 3232/QĐ-UBND định khung giá rừng trên địa bàn thành phố.

Quyết định làm căn cứ phục vụ việc giao, cho thuê, bồi thường, thu hồi, xác định giá trị góp vốn và thực hiện các hoạt động có liên quan đến định giá rừng theo quy định của pháp luật. Việc xây dựng khung giá rừng được thực hiện trên cơ sở Luật Lâm nghiệp, Luật Giá và các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó có Thông tư số 31/2026/TT-BNNMT ngày 15/7/2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định phương pháp định giá rừng, hướng dẫn định khung giá rừng và phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng.
Điểm đáng chú ý của quyết định là khung giá được xác định chi tiết theo từng loại rừng, trạng thái rừng và từng địa bàn cụ thể, phản ánh sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, chất lượng, trữ lượng và giá trị của tài nguyên rừng. Đối với rừng tự nhiên đặc dụng, tại đặc khu Cát Hải, rừng tự nhiên nguyên sinh núi đá có khung giá từ hơn 1,426 tỷ đồng đến gần 6,594 tỷ đồng/ha. Rừng gỗ tự nhiên núi đá lá rộng thường xanh giàu có mức từ khoảng 1,288 tỷ đồng đến hơn 2,036 tỷ đồng/ha; rừng ngập mặn từ khoảng 38,57 triệu đồng đến 42,15 triệu đồng/ha; rừng ngập nước ngọt từ khoảng 35,67 triệu đồng đến 38 triệu đồng/ha…
Tại phường Nguyễn Trãi, rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh giàu có khung giá từ khoảng 1,295 tỷ đồng đến hơn 2,455 tỷ đồng/ha; rừng gỗ tự nhiên núi đất trung bình lá rộng thường xanh từ khoảng 907,89 triệu đồng đến hơn 1,514 tỷ đồng/ha; rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo từ khoảng 693,5 triệu đồng đến 917,67 triệu đồng/ha.
Đối với rừng tự nhiên phòng hộ trên địa bàn thành phố, mức giá cũng được xác định cụ thể theo từng trạng thái. Tại đặc khu Cát Hải, rừng gỗ tự nhiên núi đá lá rộng thường xanh giàu có khung giá từ hơn 1,179 tỷ đồng đến hơn 2,068 tỷ đồng/ha; rừng ngập mặn từ khoảng 19,77 triệu đồng đến 38,23 triệu đồng/ha. Tại phường Nguyễn Trãi, rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh giàu được xác định từ hơn 1,187 tỷ đồng đến khoảng 1,891 tỷ đồng/ha. Đối với rừng tự nhiên sản xuất tại phường Nguyễn Trãi, khung giá rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh trung bình từ khoảng 485,38 triệu đồng đến 800,07 triệu đồng/ha; rừng nghèo từ khoảng 187,36 triệu đồng đến 304,2 triệu đồng/ha và rừng nghèo kiệt từ khoảng 107,9 triệu đồng đến 128,96 triệu đồng/ha.
Không chỉ quy định khung giá chung, quyết định còn xây dựng các mức giá phục vụ từng trường hợp cụ thể trong quản lý, sử dụng rừng. Các phụ lục tại Quyết định cũng quy định riêng khung giá bồi thường, giá thu hồi và giá xác định giá trị góp vốn đối với rừng tự nhiên đặc dụng, phòng hộ và sản xuất. Cụ thể, đối với rừng tự nhiên nguyên sinh núi đá tại đặc khu Cát Hải, giá bồi thường và giá góp vốn được xác định trong khoảng hơn 1,426 tỷ đồng đến gần 6,594 tỷ đồng/ha. Đối với rừng tự nhiên sản xuất tại phường Nguyễn Trãi, rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh trung bình có giá bồi thường và góp vốn từ khoảng 485,38 triệu đồng đến 800,07 triệu đồng/ha.
Đối với rừng trồng, quyết định xây dựng bảng giá chi tiết theo địa bàn, loài cây và tuổi rừng. Các loài cây được xác định khung giá gồm phi lao, bạch đàn, keo, thông, tre, bần, trang, vẹt, dẻ và các mô hình trồng hỗn giao giữa nhiều loài cây. Tại đặc khu Bạch Long Vĩ, rừng phòng hộ trồng phi lao năm thứ nhất có khung giá từ khoảng 63,39 triệu đồng đến 99,79 triệu đồng/ha; từ năm thứ 16 trở đi có thể đạt từ khoảng 961,93 triệu đồng đến hơn 1,480 tỷ đồng/ha. Tại đặc khu Cát Hải, rừng phòng hộ trồng bạch đàn năm thứ nhất được xác định từ khoảng 40,31 triệu đồng đến 44,64 triệu đồng/ha; rừng keo năm thứ nhất từ khoảng 38,16 triệu đồng đến 41,95 triệu đồng/ha. Đối với phi lao từ năm thứ 16 trở đi, khung giá đạt từ khoảng 966,53 triệu đồng đến hơn 1,486 tỷ đồng/ha.
Đáng chú ý, đối với một số loại cây ngập mặn có tuổi rừng cao, giá trị có thể lên tới hàng tỷ đồng mỗi héc-ta. Chẳng hạn, rừng bần từ năm thứ 16 trở đi tại phường Bạch Đằng có khung giá từ hơn 1,358 tỷ đồng đến hơn 1,915 tỷ đồng/ha; tại phường Dương Kinh, mức tương ứng từ hơn 1,359 tỷ đồng đến hơn 1,919 tỷ đồng/ha.
Việc xây dựng khung giá rừng thống nhất trên địa bàn thành phố có ý nghĩa quan trọng trong việc lượng hóa giá trị kinh tế của tài nguyên rừng, tạo căn cứ cho các hoạt động giao, cho thuê, bồi thường, thu hồi và góp vốn bằng giá trị rừng. Khung giá đồng thời góp phần tăng tính công khai, minh bạch trong quản lý tài nguyên; xác định rõ trách nhiệm tài chính của các tổ chức, cá nhân có liên quan và tạo cơ sở để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, chủ rừng cũng như các tổ chức, cá nhân trong quá trình quản lý, sử dụng rừng. Quyết định này có hiệu lực sẽ bãi bỏ toàn bộ Quyết định số 38/2021/QĐ-UBND ngày 8/11/2021 của UBND thành phố Hải Phòng quy định khung giá rừng trên địa bàn thành phố. Đối với những trường hợp đã định giá rừng trước thời điểm quyết định mới có hiệu lực, giá đã xác định tiếp tục được thực hiện; trường hợp cần điều chỉnh hoặc định giá lại sẽ thực hiện theo khung giá mới.
HÀ CHÂU