Xây dựng trọng điểm phát triển khoa học và công nghệ biển của cả nước: Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, ứng dụng

Hoàng Minh - Ảnh: Đức Nghĩa 25/01/2021 11:46

(HPĐT)- Với vị trí cửa ngõ ra biển của miền Bắc, Nghị quyết Đại hội 16 Đảng bộ thành phố đặt ra nhiệm vụ xây dựng Hải Phòng trở thành trọng điểm phát triển khoa học và công nghệ (KHCN) biển của cả nước. Để thực hiện nhiệm vụ này, công tác nghiên cứu, phát triển KHCN biển càng cần được chú trọng thực hiện giúp phát huy tối đa vị trí chiến lược, thúc đẩy mạnh mẽ phát triển kinh tế -xã hội.

Một trong những nhiệm vụ được thành phố ưu tiên triển khai là nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới trong phát triển cảng biển.

Trong ảnh: Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng.

Nhiều nghiên cứu khả thi cao

5 năm qua, bên cạnh các hoạt động nghiên cứu hợp tác quốc tế, đề tài nghiên cứu cấp quốc gia, cấp bộ, hàng trăm nhiệm vụ KHCN cấp thành phố trong lĩnh vực KHCN biển có sự tham gia của các viện nghiên cứu trung ương, các trường đại học trên địa bàn thành phố, đạt kết quả khả quan.

Trong nghiên cứu thực trạng tài nguyên và môi trường biển, hàng loạt các nhiệm vụ góp phần tạo dựng số liệu về điều kiện tự nhiên, hệ sinh thái và sinh vật biển đảo. Đơn cử, đề tài cấp thành phố “nghiên cứu môi trường và đa dạng sinh học trong các hang ngầm và hồ nước mặn khu vực Cát Bà” của Viện Tài nguyên và Môi trường biển được hội đồng nghiệm thu cuối năm 2020, đánh giá đạt xuất sắc. Qua khảo sát tại 27 hồ nước mặn tại khu vực Cát Bà, nhóm nghiên cứu xác định hệ sinh thái biển rất đa dạng, với 226 loài thực vật phù du, 85 loài động vật phù du, 53 loài cá, 44 loài rong biển, 37 loài hải miên, 48 loài san hô, 148 loài động vật đáy. Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện 4 loài quý hiếm trong Danh mục đỏ Việt Nam gồm: san hô khối, bàn mai đen, cá mòi không răng và cá ngựa đen, đồng thời lần đầu phát hiện sự phân bố của loài cá trê trắng (thường phân bố ở châu Phi) và 2 loài cá bống, ghi nhận mới cho danh mục cá biển Việt Nam. Những kết quả nghiên cứu quan trọng này là cơ sở dữ liệu để cơ quan chức năng của Trung ương và địa phương thực hiện bảo tồn, khai thác, phát triển du lịch lặn biển tại một số vị trí hang ngầm.

Bên cạnh đó, nhiều đề tài nghiên cứu của một số viện nghiên cứu là cơ sở dữ liệu quan trọng để các cơ quan quản lý của thành phố, chính quyền các cấp xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai, bảo tồn tự nhiên biển. Như đề tài nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm một số kim loại trong trầm tích tầng mặt đến hệ sinh thái rạn san hô ở quần đảo Cát Bà; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về tài nguyên sinh vật đảo Bạch Long Vỹ; biến động các hệ sinh thái bãi bồi cửa sông ven biển Hải Phòng; tác dụng chắn sóng của rừng ngập mặn đến hệ thống đê biển ở Hải Phòng; nguy cơ bùng phát và đề xuất giải pháp phòng tránh, giảm thiểu tác hại của thủy triều đỏ tại khu vực ven biển Hải Phòng…

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu mang lại giá trị kinh tế trong phục hồi, nhân giống, phát triển nguồn lợi sinh vật biển, nâng cao hiệu quả khai thác gắn với bảo vệ môi trường biển theo hướng bền vững. Như đề tài nghiên cứu sản xuất giống ngán từ nguồn bố mẹ tự nhiên phù hợp điều kiện Hải Phòng (Viện Tài nguyên và Môi trường biển) giúp giải bài toán suy giảm nguồn giống ngán tự nhiên, từ đó mở rộng diện tích nuôi ngán tại vùng rừng ngập mặn Cát Bà, Đồ Sơn. Hay nhiều nhiệm vụ KHCN đề xuất giải pháp có tính khả thi cao được áp dụng trong thực tế như nghiên cứu phát triển hệ thống dịch vụ logistics phục vụ Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng tại Lạch Huyện; (Trung tâm đào tạo logistics); các giải  pháp phát triển vận tải thủy nội địa phục vụ giải tỏa hàng hóa qua cảng tại Hải Phòng (Trường đại học Hàng hải); giải pháp ngăn mặn tạo nguồn nước ngọt cho đảo Cát Bà (Viện Địa chất); đánh giá tiềm năng ứng dụng các công nghệ sử dụng năng lượng mặt trời, năng lượng gió tại đảo Cát Bà (Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KHCN thành phố)…

Chú trọng phát triển KHCN biển

Có thể thấy, hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ biển trên địa bàn thành phố khá đa dạng, ở nhiều cấp, đạt nhiều kết quả tích cực trong thực tế. Song, theo đánh giá của Sở KHCN, hoạt động nghiên cứu ở một số lĩnh vực còn hạn chế, nhất là trong khai thác dầu khí và tài nguyên khoáng sản biển khác, du lịch biển. Nội dung một số đề tài nghiên cứu chưa mang tính hệ thống, còn dàn trải, năng lực dự báo còn yếu và thiếu. Với yêu cầu nhiệm vụ xây dựng thành phố trở thành trọng điểm phát triển KHCN biển của cả nước theo mục tiêu Nghị quyết 45 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội 16 Đảng bộ thành phố đề ra, việc nghiên cứu, ứng dụng KHCN biển càng cần được mở rộng, quan tâm, đầu tư hơn nữa. Với trách nhiệm là cơ quan tham mưu, quản lý trong lĩnh vực KHCN, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Sở KHCN nhiệm kỳ 2020-2025 đề ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, trong đó có đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển KHCN biển.

Trước hết, Sở rà soát, tham mưu thành phố hoàn thiện, xây dựng cơ chế, chính sách mang tính đột phá để khuyến khích, trong đó, chú trọng KHCN biển, thúc đẩy gắn kết viện, trường với doanh nghiệp để đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào phục vụ sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, xây dựng, đề xuất thành phố ban hành thêm chính sách hỗ trợ để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ KHCN vào sản xuất, kinh doanh. Để đẩy mạnh nghiên cứu KHCN biển, thành phố ưu tiên triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu quản lý và khai thác có hiệu quả cao các tài nguyên biển; các giải pháp bảo vệ môi trường, cảnh báo thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới trong phát triển các ngành kinh tế biển quan trọng của thành phố như cảng biển, dịch vụ cảng và hàng hải, du lịch biển, đóng tàu, nuôi trồng, đánh bắt, chế biến hải sản… Trong hoạt động nghiên cứu cũng cần ưu tiên các ứng dụng, nghiên cứu phát triển, chuyển giao các công nghệ chủ chốt của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Sở tham mưu đổi mới cơ chế tài chính và đầu tư KHCN, trong đó, thực hiện nâng cao tỷ lệ đóng góp của các doanh nghiệp và xã hội hóa thu hút các nguồn lực ngoài ngân sách đầu tư KHCN; tăng cường tiềm lực KHCN từ việc rà soát, sắp xếp lại hệ thống tổ chức KHCN của thành phố, giảm đầu mối trung gian, khắc phục tình trạng chồng chéo, dàn trải, trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực nghiên cứu. Sở tham mưu thành phố củng cố, tăng năng lực các tổ chức KHCN biển trên địa bàn thành phố, tập trung đầu tư cho đơn vị có đủ năng lực nghiên cứu, tiếp thu, chuyển giao kết quả nghiên cứu KHCN đáp ứng yêu cầu tình hình mới; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các địa phương, ban, ngành, doanh nghiệp, để xây dựng và triển khai các kế hoạch, đề án, chương trình hành động phát triển KHCN một cách đồng bộ. Để thu hút đội ngũ chuyên gia giỏi, nhà khoa học đầu ngành, nhân lực chất lượng cao làm việc trong các cơ sở nghiên cứu, đào tạo về biển, thành phố cần xây dựng cơ chế, chính sách thu hút, trọng dụng, đãi ngộ tương xứng. Đồng thời, Sở triển khai Kế hoạch thúc đẩy chuyển giao, làm chủ và phát triển công nghệ từ nước ngoài vào thành phố Hải Phòng trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên trong giai đoạn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030./.

Hoàng Minh - Ảnh: Đức Nghĩa
(0) Bình luận
Xây dựng trọng điểm phát triển khoa học và công nghệ biển của cả nước: Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, ứng dụng