Người dân hiện tự chi trả khoảng 40% tổng chi phí khám chữa bệnh, đặt ra yêu cầu đa dạng nguồn lực, bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế và giảm gánh nặng tài chính cho người dân.

Hiện nay, nguồn tài chính của hệ thống y tế Việt Nam gồm 6 nhóm: ngân sách nhà nước, bảo hiểm y tế, bảo hiểm y tế tự nguyện, nguồn tài chính từ các tổ chức phi lợi nhuận phục vụ hộ gia đình, nguồn đóng góp của doanh nghiệp và chi trả trực tiếp từ tiền túi của người dân.
Tuy nhiên, cơ cấu tài chính y tế còn mất cân đối khi chi phí từ hộ gia đình vẫn là nguồn chi lớn nhất, với mức tự chi trả khoảng 40% tổng chi phí khám chữa bệnh.
Vấn đề này được các chuyên gia đề cập, thảo luận tại phiên thảo luận về đổi mới tài chính y tế nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới, do Tổng hội Y học Việt Nam phối hợp với Bộ Y tế tổ chức ngày 28/8 tại Hà Nội.
Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà nhấn mạnh, hiện nay nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng cao, trong khi mô hình bệnh tật đang thay đổi nhanh chóng. Bệnh không lây nhiễm, già hóa dân số, các vấn đề sức khỏe tâm thần, môi trường, dinh dưỡng và những nguy cơ y tế mới đang đặt ra nhiều yêu cầu chưa từng có, đòi hỏi ngành y tế phải có những thay đổi phù hợp với tình hình mới.
Ông Hoàng Trung Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế, cho biết, tính đến hết 6 tháng đầu năm 2026, cả nước có 98,68 triệu người tham gia bảo hiểm y tế, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2025. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế so với dân số Việt Nam hiện đạt 95,47%.
Trong năm 2025, cả nước ghi nhận tổng số 194,6 triệu lượt khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, với tổng mức chi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế là 164,9 nghìn tỷ đồng, tăng 23,4 nghìn tỷ đồng so với năm 2024.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, có 94,4 triệu lượt khám chữa bệnh bảo hiểm y tế với tổng chi phí 84,8 nghìn tỷ đồng, tăng 8.420,5 tỷ đồng, tương đương 11,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Ông Hoàng Trung Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế, nhấn mạnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số, bệnh không lây nhiễm gia tăng và chi phí y tế ngày càng cao. Đặc biệt, nhu cầu khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tăng nhanh, trong khi nguồn thu bảo hiểm y tế tăng chậm hơn chi và phụ thuộc nhiều vào ngân sách nhà nước, chiếm khoảng 50% số thu. Vì vậy, đổi mới các giải pháp tài chính để nâng cao năng lực của hệ thống y tế là yêu cầu cần thiết.
Áp lực tài chính cũng gia tăng từ quá trình già hóa dân số, bệnh không lây nhiễm và tỷ lệ chi trả trực tiếp cho y tế của các hộ gia đình còn cao. Dữ liệu quốc tế mới nhất cho thấy, chi tiền túi tại Việt Nam chiếm khoảng 39,2% tổng chi y tế năm 2023, đặt ra yêu cầu tăng cường bảo vệ tài chính cho người dân.
Bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế, cho rằng số người tham gia bảo hiểm y tế và mức chi từ quỹ đều tăng qua các năm, trong khi nguồn quỹ có giới hạn. Thậm chí, trong vài năm gần đây, Quỹ Bảo hiểm y tế chi nhiều hơn thu. Bài toán đặt ra là vừa bảo đảm quyền lợi của người dân, vừa duy trì khả năng cân đối lâu dài của quỹ.
Đây cũng là những yêu cầu nhằm từng bước mở rộng quyền lợi chăm sóc sức khỏe, giảm chi phí y tế cho người dân, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.

Trao đổi tại phiên thảo luận, Tiến sĩ Ong Thế Duệ, Trưởng khoa Tài chính y tế, Viện Chiến lược và Chính sách y tế, dẫn chứng một trong những hướng đi được thảo luận là huy động thêm nguồn thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các sản phẩm có hại cho sức khỏe như thuốc lá, rượu bia và đồ uống có đường để tái đầu tư cho y tế.
Tại Philippines, nguồn thu từ cải cách thuế thuốc lá và rượu được đưa qua cơ chế ngân sách định hướng cho y tế và mở rộng bao phủ bảo hiểm y tế. Trong khi đó, Thái Lan áp dụng phụ thu 2% trên thuế thuốc lá và rượu để tài trợ cho quỹ hoạt động chủ yếu phục vụ nâng cao sức khỏe và phòng bệnh.
Nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách y tế, Bộ Y tế, đề xuất mô hình phân bổ linh hoạt, trong đó 60 - 80% nguồn thu bổ sung có thể dành cho Quỹ Bảo hiểm y tế, phần còn lại dành cho Quỹ Phòng bệnh và ngân sách chung, theo lộ trình thể chế hóa giai đoạn 2026 - 2030.
Theo phân tích trong Báo cáo Đổi mới tài chính y tế và không gian tài khóa y tế tại Việt Nam do các chuyên gia từ Nhóm Nghiên cứu Công nghệ Y tế, Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị London chia sẻ, khoảng trống tài khóa y tế, tức khoảng cách giữa chi công cho y tế và mức 5% tổng sản phẩm quốc nội được Tổ chức Y tế Thế giới khuyến nghị, có thể tăng từ 279 nghìn tỷ đồng lên 510 nghìn tỷ đồng vào năm 2030 nếu không có các giải pháp phù hợp.
Thực tế này đòi hỏi một chiến lược đa chiều, kết hợp nhiều giải pháp thay vì phụ thuộc vào một nguồn lực đơn lẻ. Các chuyên gia từ Nhóm Nghiên cứu Công nghệ Y tế, Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị London, đề xuất ba trụ cột tài chính y tế Việt Nam có thể thực hiện theo lộ trình đến năm 2030, gồm huy động ngân sách công, huy động các nguồn thu từ tăng cầu và hỗ trợ tiếp cận, đồng thời tăng cường hiệu quả.
Cách tiếp cận này cho thấy bài toán tài chính y tế cần một chiến lược có lộ trình để đồng thời mở rộng nguồn thu, huy động nguồn lực xã hội và sử dụng các nguồn lực hiệu quả hơn.
Phiên thảo luận cũng ghi nhận kinh nghiệm khu vực Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương về bảo hiểm y tế bổ sung từ Crowell Global Advisors và thực tiễn triển khai các sản phẩm bảo hiểm y tế bổ sung tiên phong tại Việt Nam. Những chia sẻ này cho thấy tiềm năng của hợp tác công tư trong mở rộng không gian tài khóa cho y tế và đa dạng hóa nguồn lực tài chính.
Các đại biểu thống nhất việc chuyển dịch tài chính y tế từ chi trả thụ động sang đầu tư chủ động cho phòng bệnh là hướng đi cần thiết, nhằm vừa bảo đảm an sinh xã hội, vừa nâng cao tính bền vững của Quỹ Bảo hiểm y tế.
Phát biểu kết thúc phiên họp, bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế, nhấn mạnh tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế của Việt Nam hiện đạt trên 95% dân số và mục tiêu đến năm 2030 là 100% dân số tham gia bảo hiểm y tế. Quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế cũng gia tăng qua các năm. Gần đây nhất, từ ngày 1/7, người bệnh đi khám chữa bệnh trái tuyến cấp cơ bản được hưởng 50% chi phí khám chữa bệnh.
“Nếu chúng ta muốn miễn viện phí toàn dân ở mức cơ bản, muốn tăng quyền lợi, các gói sàng lọc dự phòng bệnh tật, chi cho phòng bệnh và các hoạt động khác, chi hỗ trợ một phần cho khám sức khỏe định kỳ và trong lộ trình tăng giá viện phí theo tiền lương tăng…, chắc chắn sẽ phải tính tổng thể các quyền lợi bảo hiểm y tế, từ đó xác định mức đóng cho phù hợp và cân đối”, bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế, nhấn mạnh.
Theo bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế, Quỹ Bảo hiểm y tế là quỹ chia sẻ trong dài hạn và không thể kỳ vọng mọi khoản chi đều do quỹ bảo hiểm y tế bảo đảm toàn bộ. Vì vậy, trong bài toán tài chính y tế vẫn phải tìm kiếm các nguồn ngân sách khác nhau, trong đó ngân sách nhà nước dành cho những nhiệm vụ Nhà nước cần bảo đảm, cùng các nguồn tài chính mới như bảo hiểm y tế bổ sung hoặc trích một phần nguồn thu thuế từ các sản phẩm chịu thuế tiêu thụ đặc biệt để chi cho một số nhiệm vụ đặc biệt khác.
Việt Nam đang chuyển trọng tâm từ điều trị bệnh sang phòng bệnh, quản lý sức khỏe liên tục và củng cố y tế cơ sở theo tinh thần Nghị quyết 72. Bước chuyển này cần đi cùng nguồn lực ổn định và cơ chế chi trả phù hợp.
Thách thức không chỉ nằm ở việc huy động thêm nguồn kinh phí mà còn là bảo đảm nguồn lực được phân bổ đúng ưu tiên, gồm phòng bệnh, y tế ban đầu, nhóm dễ bị tổn thương, thuốc và công nghệ có giá trị, cùng năng lực dữ liệu và quản trị.
Việc tăng đầu tư cho y tế vì vậy là yêu cầu cấp thiết nhằm tạo nền tảng bền vững để hiện thực hóa 6 mục tiêu của Nghị quyết 72 trong bối cảnh Việt Nam đứng trước những thách thức từ già hóa dân số, bệnh không lây nhiễm và gánh nặng chi trả trực tiếp của người dân.
Mức chi trả trực tiếp hiện khoảng 40%, trong khi mức khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới là 20%. Nghị quyết 72 đặt mục tiêu giảm tỷ lệ chi tiền túi xuống còn 20 - 30%, qua đó tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và bảo vệ người dân trước rủi ro tài chính do bệnh tật.
TT (tổng hợp)