Sự phát triển nhanh của hoạt động thừa phát lại đang bộc lộ nhiều khoảng trống pháp lý, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải sớm ban hành Luật Thừa phát lại.

Một buổi sáng tại Văn phòng Thừa phát lại Hải Phòng (phường Hồng Bàng), hàng chục người dân đến làm thủ tục lập vi bằng ghi nhận hiện trạng nhà ở, giao nhận tiền, xác nhận hành vi, sự kiện trên môi trường mạng… Vi bằng không còn là khái niệm xa lạ mà đã trở thành công cụ pháp lý được nhiều người lựa chọn để phòng ngừa tranh chấp, bảo vệ quyền lợi của mình.
Ông Nguyễn An Hòa, Trưởng Văn phòng Thừa phát lại Hải Phòng cho biết, có ngày văn phòng tiếp nhận hàng chục yêu cầu lập vi bằng, chủ yếu liên quan mua bán tài sản, tranh chấp dân sự, ghi nhận các sự kiện trên internet. Năm 2025, riêng văn phòng đã lập 1.207 vi bằng, đồng thời thực hiện tống đạt 9.068 văn bản của tòa án và cơ quan thi hành án. Điều đó cho thấy nhu cầu của người dân trong lĩnh vực này ngày càng lớn.
Hiện nay, hoạt động thừa phát lại trên địa bàn Hải Phòng đang tăng trưởng mạnh. Nếu năm 2014 toàn thành phố chỉ lập 39 vi bằng thì đến năm 2024 con số này đã vượt hơn 6.200 và riêng 9 tháng năm 2025 đạt gần 6.900 vi bằng.
Cùng với đó, hơn 253.000 văn bản của tòa án và cơ quan thi hành án dân sự đã được các văn phòng thừa phát lại thực hiện tống đạt. Tuy nhiên, phía sau sự phát triển ấy là hàng loạt bất cập pháp lý ngày càng bộc lộ rõ.
Theo nhiều thừa phát lại, một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay là giá trị pháp lý của vi bằng chưa được quy định đầy đủ và thống nhất trong hệ thống pháp luật tố tụng.
Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định vi bằng là nguồn chứng cứ để tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc dân sự, hành chính. Tuy nhiên, pháp luật tố tụng hiện hành vẫn chưa xác định rõ vi bằng như một loại chứng cứ độc lập. Điều này khiến việc áp dụng trong thực tiễn đôi khi còn phụ thuộc vào nhận thức của từng cơ quan tiến hành tố tụng hoặc từng thẩm phán.
“Đa phần người dân nghĩ rằng cứ lập vi bằng là chắc chắn được pháp luật công nhận tuyệt đối, nhưng thực tế giá trị chứng minh của vi bằng vẫn phụ thuộc vào quá trình xem xét, đánh giá của tòa án. Đây là khoảng trống pháp lý cần sớm được hoàn thiện”, ông Nguyễn An Hòa, Trưởng Văn phòng Thừa phát lại Hải Phòng nói.
Không chỉ vậy, cơ chế quản lý vi bằng hiện cũng còn nhiều bất cập. Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định văn phòng thừa phát lại phải gửi vi bằng đến Sở Tư pháp để đăng ký trong thời hạn 3 ngày làm việc, nhưng lại chưa quy định rõ hậu quả pháp lý nếu đăng ký quá hạn hoặc không đăng ký. Đồng thời, pháp luật hiện cũng chưa quy định cụ thể những trường hợp Sở Tư pháp được quyền từ chối đăng ký vi bằng. Đây là khoảng trống khiến việc quản lý nhà nước gặp khó khăn, ảnh hưởng đến tính chặt chẽ của hoạt động lập vi bằng.
Ngoài ra, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và Thông tư số 05/2020/TT-BTP cũng chưa quy định rõ việc điểm chỉ, sửa lỗi kỹ thuật hay cấp bản sao vi bằng trong trường hợp văn phòng thừa phát lại tạm ngừng hoạt động hoặc chấm dứt hoạt động. Vấn đề rất dễ phát sinh tranh chấp trên thực tế, nhất là khi người dân có nhu cầu sử dụng lại vi bằng sau nhiều năm.
Một trong những mục tiêu lớn khi triển khai chế định thừa phát lại là từng bước xã hội hóa công tác thi hành án dân sự. Tuy nhiên, sau nhiều năm thực hiện, tại Hải Phòng, đến nay mới chỉ có 1 văn phòng thừa phát lại thực hiện xác minh điều kiện thi hành án với 1 vụ việc, chưa có văn phòng nào trực tiếp tổ chức thi hành án dân sự.
Ông Tiêu Tuấn Hưng, Trưởng Văn phòng Thừa phát lại Đại Việt (phường Lê Thanh Nghị) cho rằng nguyên nhân lớn nhất là pháp luật chưa trao đủ cơ chế và thẩm quyền để thừa phát lại thực hiện nhiệm vụ này. Mặc dù Nghị định số 08/2020/NĐ-CP cho phép thừa phát lại tổ chức thi hành án theo yêu cầu, nhưng trên thực tế lại không được áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án hay cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. Được giao tổ chức thi hành án nhưng không có công cụ cưỡng chế thì rất khó triển khai trên thực tế.

Hiện nay, chế định thừa phát lại chủ yếu được điều chỉnh bằng nghị quyết, nghị định và thông tư hướng dẫn. Nếu pháp luật không kịp hoàn thiện thì sẽ khó phát huy hết vai trò của thừa phát lại trong cải cách tư pháp và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân.
Trao đổi về vấn đề này, ông Phùng Xuân Thắng, Trưởng phòng Bổ trợ Tư pháp (Sở Tư pháp) cho biết hoạt động thừa phát lại đang phát triển rất nhanh cả về phạm vi lẫn số lượng vụ việc, nhưng hành lang pháp lý hiện nay chưa tương xứng. Trong khi các lĩnh vực bổ trợ tư pháp khác đều đã có luật chuyên ngành, thì thừa phát lại vẫn chưa có một đạo luật riêng. Đây là khoảng trống cần sớm được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.
Việc xây dựng Luật Thừa phát lại cần tập trung làm rõ giá trị pháp lý của vi bằng; hoàn thiện cơ chế đăng ký, quản lý vi bằng điện tử; bổ sung chế tài xử lý vi phạm… Sở Tư pháp cũng đã có văn bản gửi Bộ Tư pháp đề xuất kiến nghị ban hành các quy định cụ thể để phát huy vai trò thừa phát lại hiện nay.
Sau hơn 10 năm triển khai, chế định thừa phát lại đã chứng minh vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống pháp lý. Tuy nhiên, để thiết chế này thực sự trở thành “cánh tay nối dài” của nền tư pháp hiện đại, minh bạch và chuyên nghiệp, việc sớm ban hành Luật Thừa phát lại đang trở thành yêu cầu không thể chậm trễ.
Việc hoàn thiện thể chế thừa phát lại không chỉ nhằm tháo gỡ khó khăn trước mắt mà còn là bước đi quan trọng để xây dựng nền tư pháp hiện đại, chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Bên cạnh hoàn thiện thể chế, việc nâng cao hiệu quả hoạt động thừa phát lại cần gắn với tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để người dân, doanh nghiệp hiểu rõ chức năng, giá trị pháp lý của vi bằng và các dịch vụ thừa phát lại.
HẢI VÂN