Với giọng văn dung dị mà thấm thía, 'Ký ức mẹ gieo' không chỉ là câu chuyện riêng về tình mẫu tử giữa khói lửa chiến tranh mà còn là khúc ca đẹp về phẩm chất người phụ nữ Việt Nam.

Nhà tôi có mối quan hệ thông gia thật quý. Từ thông gia của bố mẹ đến của chị em tôi đều gần gũi, chân tình và nể trọng nhau. Mẹ chồng của Hà, em gái tôi, đã 90 tuổi nhưng vẫn minh mẫn lịch lãm. Những lúc con cháu tụ họp đông vui, cụ thích đọc thơ, bình thơ. Tôi là hàng con cháu nhưng được cụ quý nể gần gũi tâm sự.
Một lần nhân chuyện khen Hà biết lo toan trong ngoài trên dưới, ăn ở chu đáo, xứng vị trí dâu trưởng... cụ kể: Khi đã hiểu nhau rồi đặt vấn đề cho Hà và Thiết, tôi đưa bà Đắc, bạn kết nghĩa chị em cùng công tác ở cảng Hải Phòng đến thăm ông bà nhà mình. Khi về bà ấy bảo: Ông là cán bộ quân đội giỏi giang, hiểu nhiều biết rộng mà bà thì quê mùa, khăn vấn răng đen...
Tôi nói: Bà chưa tiếp xúc đấy thôi. Đó là người phụ nữ hiền hậu, thật thà nhưng hiểu biết sâu sắc, có chữ nghĩa, gần tuổi 70 mà sách vở, tiểu thuyết đọc làu làu, con nhà gia thế đấy!
Tôi đáp lời cụ: Cảm ơn má hiểu nhiều về mẹ con! Rồi tôi kể cụ nghe những điều về mẹ mà tôi biết và những ký ức đầy ắp mẹ gieo để con cháu chúng tôi có vốn sống làm người.
Xưa kia ông bà ngoại tôi là thương gia giàu có ở một vùng quê trên bến dưới thuyền, buôn bán sầm uất, nhà thờ chùa chiền mọc san sát với nhà thờ Bùi Chu cổ kính, Phú Nhai to nhất Đông Dương. Năm Ất Dậu 1945 thế kỷ trước, ông ngoại mở kho thóc riêng cấp đỡ người nghèo qua cơn đói khủng khiếp. Mẹ tôi được học đủ chữ để ghi chép hóa đơn sổ sách, quản lý mấy đại lý diêm, đường phèn, bè gỗ thay ông. Ông nội, ông ngoại tôi có mối thông gia môn đăng hộ đối, thường cùng nhau lên thành phố Nam Định "chơi" hát cô đầu, mốt nhà giàu thời bấy giờ. Mẹ tôi hài hước kể: Một lần khách đông, chỉ còn một cô, ông nội xoa hai tay kính cẩn nhường thông gia: Xin kính cụ ạ! Ông ngoại từ tốn: Dạ, không dám, rước cụ ạ!
Sau khi bà nội mất, ông nội đau buồn, tàu bè bán sạch. Là dâu thứ nhưng mẹ phải đứng ra cáng đáng việc nhà chồng với hàng chục miệng ăn, toàn các chú lộc ngộc. Có bác dâu cả nhưng ốm đau, nhà nghèo.
Quản lý một gia đình đông đúc thất thế nhưng mẹ tôi dựa vào ông bà ngoại cố giữ nề nếp bà nội để lại. Đi làm cỏ lúa mẹ vẫn giữ như đi cùng bà trước đây là đi guốc, mặc áo dài tứ thân, đội nón quai thao, ra ruộng thay đổi những thứ ấy để trên bờ trong chiếc rổ cật sáng bóng bồ hóng bếp, xong việc lại mặc trở lại về nhà.
Để ăn uống không sa sút, mẹ thường tranh việc đi chợ hàng ngày cho bà ngoại, mua gì cũng gấp đôi rồi về vạch lấy một nửa, nói: Con xin mẹ! Rồi mang về nhà nội. Thế là mọi người vẫn ăn đều tôm he, tôm bộp, cá biển tươi từ người vùng biển Hải Hậu gánh lên bán. Để giải quyết cơ bản cuộc sống, mẹ xin ý kiến ông nội gom chút tiền còn lại rồi xin ông ngoại cấp vốn riêng cho mình để mua một thuyền vận tải gỗ để bố tôi và các chú có việc làm.
Tuy gánh vác việc nhà chồng, mẹ vẫn theo đuổi học thêm chữ quốc ngữ và tham gia nhóm yêu Thơ mới cùng các ông chú thuộc dòng dõi bên ngoại là con các cụ Lý Đình, Hương Nhất... Khi Pháp mở rộng việc lập tề, đường làng nghênh ngang những lính Pháp, lính ngụy; thanh niên trong vùng bí mật nô nức tòng quân giết giặc; các ông chú Bổng, Tá trong nhóm thơ đã lên chiến khu Việt Bắc; các ông Đạo, Hà, Phiến vào bộ đội; mẹ nghĩ nhiều đến bố.
Một lần sau chuyến thuyền chở đá Ninh Bình về, bố được mẹ dúi vào tay tờ giấy có mấy câu thơ: Chiều qua cả một gầm trời gió lộng/ Em cấy ở một nơi đồng rộng mênh mông/ Vẳng xa nghe tiếng chuông chùa thong thả/ Điểm âm vang máu ứ lạnh tâm can càng khó chịu/ Bởi vì anh cứ bận bịu với em thôi/ Khi nước biến gian nan/ Sức bằng người lại chịu ngồi khi giặc đến?! Mấy ngày sau lại một tờ ghi mấy câu tiếp: Đi đi anh, hãy đứng lên đi/ Hồn tổ quốc như là đương thúc giục/ Chí làm trai là phận sự lúc lâm nguy... Đấy là những câu thơ bố nhớ sau này đọc cho tôi nghe, còn tờ giấy mẹ viết thì bố giữ luôn bên mình rồi qua chiến trận bị mất.
Sau chuyện ấy mấy tháng, vào một đêm mưa phùn gió bấc, mẹ và thím Phái - vợ chú thứ tư - lặng lẽ tiễn bố tôi và chú vào Vệ quốc quân (khi ấy bố mẹ tôi đều ở tuổi 20, mẹ có mang tôi tháng thứ năm, đến tháng Tư năm ấy mẹ sinh. Còn chú thím thì mới cưới nhau được vài tháng).
Khi chú Phái giơ chân bước xuống đò, tiếng thím vỡ òa, nức nở: Anh ơi, anh đi em ở nhà với ai? Chú ngập ngừng, chân trên bờ chân dưới đò. Thím thì cứ rấm rứt khóc. Thế là chuyến đi của chú không thành.
Chú bảo bố tôi: Anh đi mạnh khỏe bình yên trở về. Em sẽ đi sau! Nhưng chú không đi nữa mà đưa thím vào vùng tự do là Thanh Hóa buôn bán. Cứ sau mỗi chuyến hàng vượt giữa hai vùng tự do và địch hậu về, chú đổ tay đẫy tiền như chiếc ba lô ra giường để thím xếp đếm. Khi tôi lớn, mẹ tâm sự những lúc ấy cũng thấy chạnh lòng. Sau đó các chú Châu, Huân, Hải (em thứ 5, 6, 7 của bố tôi) lần lượt cũng trở thành anh bộ đội Cụ Hồ như bố.
Trong số các chú mẹ tôi thương và gần gũi nhất với chú Châu, nhất là từ khi bà nội mất. Chú đa cảm với nỗi niềm riêng, coi mẹ tôi là chỗ dựa không thể thiếu. Hai chị em lại cùng yêu văn chương, mê những cuốn tiểu thuyết như Bỉ vỏ, Cơm thầy cơm cô, Số đỏ, Nửa chừng xuân, Lều chõng, Tắt đèn...
Sau hòa bình năm 1954 mấy năm, mẹ giới thiệu người chị họ bên ngoại cho chú và bố trí hai tối liền để hai người gặp gỡ tìm hiểu. Thấy chú về muộn, mẹ và chú Phái sốt ruột nhưng mừng thầm, đi ra đi vào ngoài sân dưới ánh trăng suông vằng vặc rồi đoán "chắc là được!". Ba tháng sau, ông anh bà chị rộn ràng lo lễ ăn hỏi và cưới cho em theo đời sống mới ngày ấy.
*
Ngày ấy mẹ đưa tôi tản cư vào Thanh Hóa là vùng tự do, nơi bộ đội thường tập trung chỉnh quân hoặc chuẩn bị đi chiến dịch với hy vọng được gần bố hơn, biết đâu được gặp nếu bố biết mà tạt qua. Vì vậy cứ ở đâu thấy bộ đội kéo quân về làng là mẹ "tha" tôi đến đấy, hết Nga Sơn, Thọ Xuân rồi tận Cửa Đặt, Bái Thượng, Tứ Trụ, Thọ Duyên...
Dạo ở Hậu Hiền, nhà ven đường quốc lộ, đêm đêm mẹ nằm áp tai vào vách nứa nghe bước chân bộ đội, rầm rập hành quân qua. Tôi hỏi: mẹ đếm bước chân các chú bộ đội à? Mẹ bảo: mẹ tìm nghe tiếng bước chân của bố! Sau này lớn lên hiểu mẹ, tôi mới nghĩ được là vì quá nhớ nhung, với tâm hồn đa cảm mẹ cứ hy vọng bâng quơ vậy để tự an ủi.
Năm 1954, hòa bình lập lại, mãi vẫn bặt tin bố. Khi ấy mẹ con tôi đang ở gần Sầm Sơn lại nghe tin ở đây có cuộc trao trả tù binh, với hy vọng mong manh, mẹ đưa tôi đi tìm bố. Chúng tôi đã đến các lán trại dựng bằng bạt, ghi biển phân khu theo quê hương các chiến sĩ được trao trả như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình... nhưng đều không có bố.
Chiều chiều, đứng trên bờ biển mẹ con tôi khắc khoải nhìn chiếc tàu há mồm của Ba Lan từ xa thả người của ta được trao trả xuống phương tiện nhỏ để vào bờ rồi đón tù binh Pháp đi. Ngày ấy tôi mới 8 tuổi nên không hiểu nhiều, thấy mẹ buồn cũng buồn theo. Mấy tháng sau mẹ đưa tôi hồi cư về quê cùng các cậu bên ngoại.
Năm 1955, bố tôi có mặt trong đoàn quân về tiếp quản Hải Phòng rồi được điều về Cục phòng thủ bờ biển, nay là Bộ Tư lệnh Hải quân.
Để gia đình nhỏ của chúng tôi được gần nhau, bố đưa mẹ con tôi ra Hải Phòng sống. Không bao giờ tôi quên được hình ảnh mẹ đội chiếc giường ba xà gỗ tạp tháo rời buộc chặt, đi bộ 20 cây số từ nhà sang bến xe khách Thái Bình rồi mới bỏ lên ô tô ra Hải Phòng. Chiếc giường này mẹ tôi lại cho cô Vân cùng phòng trọ vì có con nhỏ, sợ cháu nằm đất dễ ốm. Cô cùng cảnh vợ bộ đội vừa ra khỏi chiến tranh nên đều nghèo, mẹ bảo thế!
*
Mấy năm học cấp 2, tôi có một cuộc sống êm đềm, được gần cả mẹ lẫn cha. Niềm mong mỏi lớn nhất của chúng tôi là có thêm em bé. Tưởng đã vô vọng, nhưng sau một năm phụ trách đoàn cán bộ chiến sĩ đi tập huấn và tiếp nhận đoàn tàu chiến đầu tiên của Hải quân Việt Nam do nước bạn viện trợ, bố tôi trở về mang niềm vui sum họp và thuốc men mua của nước ngoài về cho mẹ nên sức khỏe của bà được hồi phục, thời gian sau mẹ tôi có mang. Rồi chúng tôi lại có thêm niềm vui nữa.
Trước đấy một năm, Trường Con liệt sĩ Hà Nội có chủ trương đưa học sinh về các cơ quan xí nghiệp đỡ đầu. Khi này mẹ tôi chưa có mang, đã làm đơn xin một em. Bà hỏi tôi thích em trai hay gái? Tôi nói: Mẹ xin em gái cho con, chị em gái vui hơn! Thế là một ngày đẹp trời, mẹ mang bụng bầu bảy tháng đi xích lô đón em về. Tên em là Khánh Vân, 10 tuổi. Hai tháng sau mẹ sinh, cũng em gái. Bố mẹ bảo hai chị đặt tên cho em. Chúng tôi nói đặt là Thu Hà. Vân rất yêu em, luôn tranh việc cho ăn bột và đón em từ nhà trẻ về. Với tôi, Vân kém 5 tuổi nên đôi lúc chị em cũng chậm chọe dở ương nhưng cơ bản là hợp tính, thương yêu nhau, càng có tuổi càng thương.
Cuộc sống của chúng tôi đang vui vầy hạnh phúc thì bỗng ly tán, mỗi người một nơi. Bày ra "sự kiện Vịnh Bắc bộ", đế quốc Mỹ lấy cớ để thực hiện tiến công miền Bắc bằng không quân và hải quân. Chiến tranh xảy ra...
Đang phụ trách các khu tuần phòng miền Đông Bắc gần nhà, bố tôi nhận lệnh biệt phái vào Bộ Tư lệnh Quân khu Bốn. Trước hôm vào mặt trận ác liệt này, bố tôi dành một buổi tối về gặp mẹ con chúng tôi. Sau bữa ăn chia tay, bố bảo tôi mang ghế ra vỉa hè trước cửa nhà để ngồi nghe bố dặn dò.
Ông nói: bố con ta một lần nữa lại phải xa nhau. Chiến tranh lần này sẽ ác liệt hơn thời kỳ chống Pháp nhiều. Nhưng bố thấy yên tâm hơn vì mẹ có chỗ dựa là con. Bố rất thương con vì sẽ sớm phải lo toan. Song bố cũng rất tin con. Đừng làm gì để mẹ buồn. Hãy thay bố chăm sóc mẹ và em. Bố muốn con gái bố lớn lên vào đời một cách khỏe khoắn, khỏe cả thể chất và tâm hồn, không ủy mị yếu đuối, không đa sầu đa cảm, luôn thích nghi với hoàn cảnh, xứng đáng là "Con gái viên Đại úy". Bố cười buồn và rưng rưng nước mắt. Còn tôi thì chỉ biết khóc. Bố còn dặn nhiều rồi ôm đầu tôi áp vào ngực mình, lặng yên để tôi khóc.
Ngay sáng hôm sau bố tôi vào mặt trận ác liệt trong kia, mẹ đưa em Hà sơ tán về Xuân Trường, Nam Định với ông bà nội ngoại rồi trở ra đi làm ở Hợp tác xã dệt vải Thành Công. Vân sau đó sơ tán về nhà cậu ruột rồi đi bộ đội. Còn tôi kể từ đây, dù đang ở tuổi 18 - 19 nhưng như đang bỏ qua tuổi thanh xuân để làm một người phụ nữ tần tảo, lo toan.
Thời gian này mẹ tôi chịu nhiều áp lực về tinh thần. Mẹ đang đau buồn vì người em trai là cậu Lê Quốc Lượng, một sĩ quan tên lửa tài giỏi, vừa tốt nghiệp Đại học Bách khoa ra đã có những đóng góp có giá trị về kỹ thuật, chiến thuật phục vụ chiến đấu, vừa hy sinh tại mặt trận Vĩnh Linh ở tuổi 27.
Mẹ còn phải phấp phỏng lo âu cho sự bình yên của bố tôi ở nơi bom đạn ác liệt. Rồi sự thương nhớ lo lắng cho Thu Hà bé bỏng phải tha lôi hết ở quê, ra đến các nhà trẻ ở Thủy Nguyên, An Hải. Hàng ngày đi làm về bao giờ mẹ cũng ngó nghiêng từ sau cánh cửa đến gầm giường xem có thư của bố do người của bưu điện lùa vào không. Sau này tôi cũng làm theo mẹ và giữ thói quen ấy cho đến khi làm vợ bộ đội. Cuộc đời tôi đã lặp lại nỗi chờ đợi, lo âu khắc khoải triền miên ấy của mẹ và tôi tự tin bước vào đời để chia sẻ cùng mẹ.
*
Năm 1967, một ngày chớm thu, nắng rực rỡ giát vàng khắp đường phố, báo hiệu một ngày không bình yên, máy bay Mỹ sẽ hoạt động nhiều. Dù là ngày chủ nhật, đồ tiếp tế đã chuẩn bị xong nhưng tôi cứ chùng chình chưa sang mẹ hoặc lên em, mà chờ chiều muộn mới đi để tránh gặp báo động giữa đường.
Bất ngờ nhà có khách. Đó là hai sĩ quan Hải quân, một trung úy, một thiếu úy. Họ giới thiệu ở cơ quan Bộ Tư lệnh với "bố Phốc". Trông cả hai chững chạc cả về trang phục, phong thái và tuổi tác, chàng trung úy lớn tuổi hơn; chàng thiếu úy tên Tâm, khoảng 30 tuổi, đẹp trai đến rạng rỡ bởi dáng tầm thước, da trắng hồng, mắt sáng, có nụ cười tươi và hiền.
Sau này người ấy là chồng tôi. Thì ra hôm ấy trung úy Đôn dẫn anh đi "xem mắt". Anh hơn tôi 10 tuổi, vừa tốt nghiệp trường sĩ quan kỹ thuật chuyên ngành vô tuyến điện ở nước ngoài về, cũng đã kịp quen biết tìm hiểu rồi yêu được vài ba cô, có cô là em gái trưởng phòng thông tin của anh, nhưng đều do anh mà không thành. Các chú ở đơn vị bảo anh "kén". Còn tôi cũng do các chú vun vén sau khi đã xin ý kiến cho phép của bố tôi. Phải chăng là do duyên số. Hôm ấy có linh tính hay sao mà như chờ như đợi. Nếu tôi đi thăm mẹ hoặc em thì sao nhỉ? Vì sau đó nhà tôi bị bom bỏ tan tành, tôi phiêu dạt nơi ở, mà bố thì đang ở chiến trường, các chú muốn gặp thì hỏi ai, chiến tranh mà!
Không ngờ cái buổi "xem mắt" ấy lại suôn sẻ. Khi về họ bình phẩm nhiều. Cả hai đều thích cái vẻ bẽn lẽn đáng yêu của tôi, còn "thành phần" thì yên tâm rồi... Sau này anh Tâm kể vậy. Còn về anh, tôi được biết 17 tuổi vào bộ đội, tham gia ngay trận đánh đầu tiên của đời quân ngũ là Điện Biên Phủ, rồi đi học nước ngoài về là sĩ quan ra đa, lần lượt là phó chỉ huy các đài ra đa vùng Đông bắc, trong đó đài 500 cơ động đã dẫn đường cho ba tàu phóng ngư lôi đánh trả tàu chiến Maddox của Mỹ ở Vịnh Bắc bộ năm 1964.
Biết tôi nhận lời lấy anh Tâm là bộ đội cùng cơ quan Bộ Tư lệnh với bố và bố cũng đã "biết chuyện"; nhất là sau này được thấy vóc dáng, tính cách hiền lành chững chạc và lý lịch trận mạc sơ qua của anh, mẹ tôi vui lắm, bà động viên: là vợ bộ đội giữa thời chiến tranh, rồi cũng như mẹ, con sẽ phải sống trong chờ đợi và hy vọng. Nhưng mẹ tin ở sự lựa chọn của con, vui đấy nhưng cũng thương lắm!
Từ đấy mẹ vui vẻ và khỏe dần lên. Cứ thấy tôi sang, việc đầu tiên mẹ hỏi là có thư của bố không, em Hà và anh Tâm thế nào? Thế là từ đây gia đình tôi có thêm một người để mẹ con tôi phấp phỏng lo âu chờ đợi. Chỉ còn điều ngại ngần là anh hơn tôi những 10 tuổi. Sự chênh lệch này ngày ấy là rất quan trọng chứ không xem là bình thường như bây giờ.
Một buổi trưa nằm cùng giường ở nơi sơ tán, mẹ quàng tay ôm vai tôi rủ rỉ: mẹ quý trọng và thương anh Tâm lắm. Sau này là vợ chồng rồi, khi sốt sả hay bực giận gì thì con cũng đừng gắt gỏng với anh nhé, cứ nghĩ đến mẹ là con làm được. Dù có tức, có khó khăn đến đâu nhưng khi ta làm điều gì cho người này mà vì người kia thì sẽ thấy dễ dàng hơn! Ôi, một lời dạy từ tâm can mẹ mà tôi khắc ghi trong lòng như một thứ triết lý.
Hơn 50 năm qua tôi đã sống như vậy với chồng, con và các mối quan hệ khác. Lời ấy của mẹ dạy tôi luôn tìm được lý do khi muốn lùi cái tự ái cá nhân để biết nhường nhịn, không thắng thua cãi vã. Cuộc hôn nhân của chúng tôi cũng có những mảng màu gập ghềnh khập khiễng, mẹ đã giúp chúng tôi kê bằng cái khập khiễng ấy để dần dần càng thấy quý trọng nhau hơn.
*
20 năm đã trôi qua, cứ mùa thu đến chúng tôi lại họp mặt vào ngày giỗ cha mẹ, cùng nhau nghĩ đến những ký ức đan xen mẹ đã gieo trong tâm khảm chúng tôi như không bao giờ vơi cạn. Các con của tôi và Hà đều may mắn lớn lên trong sự chăm sóc đầy tình thương yêu của ông bà ngoại để có một tuổi thơ đẹp.
Một lần, Thành con trai lớn của tôi, kể cho An Thuận, cháu trai yêu quý của tôi, nghe chuyện về cụ ngoại với những đêm thức trắng quạt cho Thành ngủ khi mất điện; hay có những tối chong đèn bên mâm cơm đợi cháu, bà rưng rưng nước mắt thổn thức, sợ cháu lạc giữa đầm sú vẹt Cát Bi khi dắt chiếc xe đạp cao hơn người đi cắt cỏ cho mấy con thỏ cậu nuôi, rồi bà giục ông và nhờ mọi người tỏa đi tìm cháu trong đêm tối... Những ký ức thấm đẫm tình thương ấy của tuổi thơ bố và các cô chú đã lay động đến tâm hồn non nớt của đứa trẻ mới vào lớp một hay sao mà nghe đến đây, An Thuận đã vội bảo: Bố kể về cụ nữa là con khóc đấy, nước mắt con đã đọng ở cả hai mắt rồi đây này!
Còn tôi, trong bao điều nghĩ về mẹ, có một chuyện luôn lưu giữ sâu đậm trong ký ức, ấy là hình ảnh hai mẹ con gái nhổ tóc sâu cho nhau. Khi ấy mẹ đã qua tuổi năm mươi, phát hiện tóc mẹ có sợi bạc, tôi nhổ đưa vào tay mẹ, mẹ giơ lên nhìn, mỉm cười vô tư lự. Rồi cũng một lần, tôi ở tuổi "ngũ thập tri thiên mệnh" như mẹ ngày ấy, thấy sợi bạc trên tóc tôi mẹ nhổ rồi cứ mân mê trên tay và lặng lẽ chấm nước mắt. Tôi quay nhìn vào mắt mẹ. Ôi giọt nước mắt hiếm hoi rịn ra từ vành mi khô héo mà sao thấm đẫm đủ vị ngọt ngào mặn chát... Lát sau mẹ cất lời: Sao con không viết tiếp đi, lâu không thấy con viết lách gì. Đừng bỏ văn chương con nhé...
Trong tôi bỗng dâng lên cảm xúc đong đầy khi nhận biết thêm về cõi vô bờ lòng mẹ và tự hỏi: Bao giờ lòng mẹ mới vơi nỗi ngổn ngang!
Truyện ký của TRẦN THỊ HẰNG