Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 so với Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 bảo đảm tính chuyên nghiệp, đáp ứng thực tiễn giải quyết mâu thuẫn tại cộng đồng.

Ngày 24/8/2026, Quốc hội khóa XVI, Kỳ họp không thường lệ thứ nhất thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027. Theo luật, một số quy định của pháp luật về hòa giải viên được quy định như sau:
Là công dân Việt Nam cư trú tại cơ sở. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong cộng đồng dân cư. Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân; có hiểu biết pháp luật. Không trong thời hạn xử lý kỷ luật, thi hành quyết định xử lý kỷ luật; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành án hình sự hoặc chưa được xóa án tích.
Quyền của Hòa giải viên là thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở; đề nghị các bên có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến vụ, việc hòa giải.
Tham gia sinh hoạt, thảo luận và quyết định nội dung, phương thức hoạt động của tổ hòa giải.
Được bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật, nghiệp vụ và kỹ năng hòa giải; được cung cấp tài liệu liên quan đến hoạt động hòa giải.
Hưởng thù lao theo vụ, việc khi thực hiện hòa giải.
Được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.
Được hỗ trợ, tạo điều kiện để khắc phục hậu quả nếu gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hoạt động hòa giải.
Mời người tham gia hòa giải theo quy định.
Được đề nghị UBND cấp xã, Công an cấp xã bảo đảm an ninh, trật tự khi tiến hành hòa giải trong trường hợp nhận thấy mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật có thể dẫn đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của hòa giải viên, các bên và những người khác tham gia hòa giải hoặc gây mất trật tự công cộng.
Được hỗ trợ khi ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong thực hiện các hoạt động hòa giải ở cơ sở, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Được kiến nghị, đề xuất cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến hoạt động hòa giải.
Tiến hành hòa giải khi có căn cứ theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
Tuân thủ các nguyên tắc về hòa giải ở cơ sở.
Từ chối tiến hành hòa giải nếu có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ, việc hòa giải hoặc vì lý do khác dẫn đến không thể bảo đảm khách quan, công bằng trong hòa giải.
Thông báo kịp thời cho Tổ trưởng tổ hòa giải trong trường hợp trực tiếp đề nghị UBND cấp xã, Công an cấp xã bảo đảm an ninh, trật tự trong quá trình hòa giải; phối hợp thực hiện các biện pháp phòng ngừa trong trường hợp nhận thấy mâu thuẫn, tranh chấp có thể dẫn đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của các bên và của những người khác tham gia hòa giải (nếu có) hoặc gây mất trật tự công cộng.
Thông báo kịp thời cho Tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo cơ quan có thẩm quyền xử lý trong trường hợp phát hiện mâu thuẫn, tranh chấp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hành chính hoặc vi phạm pháp luật hình sự.
Đề xuất UBND cấp xã hỗ trợ bố trí người phiên dịch theo đề nghị của các bên.
Lập văn bản về kết quả hòa giải sau khi kết thúc hòa giải theo quy định.
Tham gia bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật, nghiệp vụ và kỹ năng hòa giải do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tổ chức.
PHẠM VĂN