Truyện ngắn 'Người lính đảo xa' của nhà văn Bùi Thu Hằng đã khắc họa chân thực và xúc động vẻ đẹp của người lính nơi đảo xa trong thời bình qua nhân vật Thuần.

Đêm phố đảo trời trở gió trong cái lạnh se se.
Tôi ngẩng lên ngắm nhìn muôn triệu vì tinh tú lấp lánh trên bầu trời trong vắt, sẫm mịn như nhung. Xa xa, ánh đèn biển hay ánh trăng như rọi bóng bước chân trên bờ cát của chúng tôi. Những cây dừa và phi lao uốn mình trong gió biển, đôi lúc như cúi nhẹ xuống để muốn lắng nghe chuyện của nhóm người với những âm thanh thì thầm tan trong gió.
Thoáng thấy hơi biển mằn mặn trong làn tóc, hình như có cả mùi hương trầm trong đêm, tôi bật khóc khi nhớ đến một người lính đã hy sinh trên đảo. Người lính ấy hy sinh trong một ngày thật đặc biệt vì sự bình yên của nhân dân và những tấc đất thân yêu của biển đảo hôm nay.
Không chùn bước trước bao gian khổ, trong anh chỉ có một lời thề, một niềm tin tất thắng. Đó là câu chuyện về anh Nguyễn Văn Bích, người con quê hương Thanh Miện - Hải Dương cũ, nay là thành phố Hải Phòng, người đồng hương của tôi! Anh hy sinh khi tuổi đời hai mươi bảy, chưa từng biết yêu, chưa biết hẹn hò…
Viên đạn nằm sâu trong đầu đã khiến anh hôn mê cả tháng trời rồi chìm vào giấc ngủ sâu vĩnh viễn. Viên đạn ấy đã bắn ra từ khẩu súng của một tay lâm tặc liều lĩnh. Hắn đã nhả đạn vào anh trong đợt truy quét nhóm thủ phạm gây ra hàng loạt vụ chặt phá rừng trên đảo.
Thuần bất chợt hỏi tôi:
- Tôi hỏi câu này, chị trả lời thật nhé! Nếu phân công chị ra công tác luôn ở đảo này, chị đi không?
- Thì… thì… tùy tình hình thực tế… rồi tính - Tôi ngập ngừng.
- Thấy chưa? Nhiều người vẫn ngập ngừng như chị đấy…
Thấy tôi bối rối, lúng túng, Thuần cười khẽ rồi bảo:
- Hỏi vậy thôi chứ tôi biết trước câu trả lời rồi!
Tôi né tránh ánh nhìn của Thuần, rồi vu vơ nhìn những viên đá trên bãi biển. Thuần nói đúng. Nhiều người vẫn ngập ngừng khi được hỏi có chọn đảo để bám trụ như cách mà Thuần đã hỏi tôi.
Chiều nay, một chiều cuối Thu yên bình và tràn ngập ánh nắng, cái nắng đặc trưng của đảo Bắc cuối năm sớm tan để nhường cho màn đêm buông xuống thật nhanh, tôi chia tay những người lính đảo trong không gian như thế.
*
Các anh đã chuẩn bị một bữa cơm chia tay sớm với sự trịnh trọng và mến khách. Bữa cơm ấm áp với các món ăn đặc trưng miền Bắc: Có giò thủ, nem chạo, xôi nếp với vài chai rượu trắng. Mọi người cùng hát vang bài hát “Chút thư tình của người lính biển”, lời ca ấm áp, da diết dù thiếu ánh sáng và nhạc cụ, chỉ có một cây đàn ghi ta và cây sáo trúc.
Nhưng chỉ thế thôi cũng đủ làm rộn ràng một góc đảo trong ánh lửa bập bùng, những tia sáng hồng rực mờ ảo làm mịn màng gò má những cô gái trẻ và làm lấp lánh hơn ánh mắt nụ cười các chàng trai mười tám đôi mươi. Mấy anh lính trẻ còn còn nhún nhảy, hoạt náo với các tiểu phẩm hài hước tự sáng tác mang đậm chất lính.
Thuần ôm ghi ta, hát nhẹ nhàng từng giai điệu ca khúc “Biển - nỗi nhớ và em”, chất giọng ngọt ngào và cuốn hút. “Gió âm thầm chẳng nói, mà sao núi phải mòn! Em đâu phải là chiều, mà nhuộm anh đến tím. Sóng có nghĩa gì đâu, nếu chiều nay em chẳng đến! Dù gió có làm em, nghiêng ngả vì anh…”.
Bữa cơm kết thúc trong sự lưu luyến và câu chuyện còn dang dở, đốm lửa bập bùng... Những đôi mắt lặng im! Nhiều giọt nước mắt của các cô gái trong đoàn đã long lanh. Tôi bất chợt nhìn thấy một ánh nhìn đăm chiêu xa xăm thật lạ. Đôi mắt sáng của sự tự tin và hoài niệm, có cả nỗi nhớ da diết suy tư của một cuộc đời đã trải qua những sóng gió. Đôi mắt của Thuần. Tôi chợt nhận ra hình những người lính đảo này đều có đôi mắt sáng, nụ cười hiền hậu cương nghị như thế!
Thuần kể về đời mình, cứ đều đều trong màn đêm đang ập xuống rất nhanh. Thuần bảo, anh ra đảo đã sáu năm và sắp được làm cha.
- Ở đảo nhớ nhất là gì? - Tôi hỏi.
- Gia đình! – Thuần đáp.
Ngừng một lát rồi Thuần tiếp:
- Nhiều đêm, nằm chiêm bao thấy về đất liền thăm vợ con, rộn ràng nao nức. Thức dậy chỉ thấy bốn bề sóng gió và tiếng đập cánh của hải âu, nhưng tiếng vợ cười, con hát vẫn âm vang trong lòng, cảm xúc nao nao lắm.
- Vợ anh đã ra đây lần nào chưa? – Tôi hỏi.
- Cô ấy cùng quê với tôi. Ra đây một lần rồi… - Nói đến đó Thuần chợt im lặng nhìn ra biển đêm.
- Rồi sau đó?
- Lần ấy trước khi ra đảo, cô ấy một hai muốn tôi xin chuyển về đất liền. Cô ấy bảo ở nhà bao việc cần người đàn ông gánh vác mà cô ấy chỉ một mình.
- Rồi anh trả lời sao?
- Đến lúc cô ấy ra đây, cùng sinh hoạt với anh em và chứng kiến chúng tôi làm nhiệm vụ, biết được những đồng chí, đồng đội của tôi đã hy sinh để giữ gìn biển đảo quê hương, cô ấy đã thay đổi. Lúc chia tay bên bến tàu, cô ấy không còn giục tôi xin chuyển về nữa, chỉ ôm chồng thật chặt rồi dặn dò “Anh nhớ giữ gìn sức khỏe! Bao giờ nghỉ phép về với em!”.
- Thế còn bây giờ?
- Về đất liền ít lâu, mới tuần trước cô ấy nhắn tin thông báo tôi sắp được lên chức bố. Mừng quá chị ạ!
Tôi cũng vui lây với niềm vui của Thuần:
- Chúc mừng anh!
- Nhận tin xong, đêm đó tôi không ngủ được, cứ một mình hát nghêu ngao rồi cười. Anh em đồng đội ban đầu tưởng tôi mắc bệnh gì đó, giục mấy lính trẻ đưa tôi ra trạm xá! Tôi bảo không sao nhưng anh em không tin, còn bắt tôi uống thuốc. Phải đến tận khi tôi đưa cho mọi người đọc cái tin nhắn của vợ, tất cả cùng ào lên chúc mừng, rồi lắc vai tôi, ôm lấy tôi quay tít mù. Sau đó, tiểu đội thịt hai con gà nuôi được 4 tháng, làm nồi lẩu, gọi là liên hoan chúc mừng tôi lên chức.
Kể lại, Thuần vẫn cười. Ánh mắt long lanh lấp lánh niềm vui.
*
Thuần đưa tôi cùng mấy chị em nghệ sĩ trong đoàn đến một ngôi miếu nhỏ trên đảo. Trong khói hương thoang thoảng, tiếng gió, tiếng sóng biển rì rào miên man, không gian trầm mặc khiến tôi tưởng tượng mình đang ở giữa làng quê yêu dấu. Cảm giác thật linh thiêng khi nhớ về người đã khuất, các anh hùng liệt sĩ nơi đảo xa đã ngã xuống để giữ trọn lời thề sắt son cùng quê hương, đất nước.
Trong ấy có cả những người lính thời bình đã quên thân mình bảo vệ người dân đảo, bảo vệ tài nguyên Tổ Quốc và chủ quyền biển đảo thiêng liêng nơi đầu sóng ngọn gió. Đó chính là lời thúc giục, lợi hiệu triệu tất cả cùng giữ trọn niềm tin và một trái tim dân tộc, hòa chung dòng máu cha ông đang sục sôi trong huyết quản, quyết tâm bám biển, bám đảo vì sự toàn vẹn thiêng liêng.
- Các chị có tin vào điều kỳ diệu không? – Thuần hỏi
- Sao anh hỏi vậy? - Một chị trong đoàn lên tiếng.
- Chúng tôi linh cảm những người đồng đội đã hy sinh vẫn đang vương vấn đâu đây, trong gió, trong mây, trong sóng biển ầm ào, trong tiếng chuông ngân và khói hương mỗi ngày, đâu đây cũng thấy họ. Họ luôn đi theo để bảo vệ chúng tôi, chở che cho chúng tôi!
Rồi Thuần kể tiếp:
- Có lần đang ngủ, tôi thấy anh Bích về ngồi bên tôi. Anh ấy bảo, mai ra biển phải mang đồ và áo phao cẩn thận nhé! Mà về sớm vào! Chiều hôm ấy, sau khi chúng tôi cập bờ 20 phút, một đợt gió lốc ập đến đã nhấn chìm cả con tàu không có người. Nhớ lại lời dặn dò trong mơ đêm trước, chúng tôi nhận ra đồng đội mình đã nhắc nhớ để bảo vệ an toàn cho chúng tôi.
Để lại mấy chị em đang tham quan ngôi miếu, tôi im lặng bước ra phía biển. Cây hoa sim cứng cỏi vươn mình trong cát, hoa nở tím, khẽ rung rinh rướn những cánh móng về ngọn sóng. Bông hoa như một câu trả lời. Phía sau là bước chân của Thuần đang chậm rãi. Đúng như Thuần nói: Họ không mất đi mà bất tử trong trái tim đồng đội. Họ là những người mãi mãi nằm lại để dõi canh biển trời Tổ quốc.
Tôi lại nhớ tuần trước, cả đoàn theo lính đảo đến thăm ngọn hải đăng. Hôm đó biển trở mình khi gió mùa Đông bắc tăng cường, sóng to gió lớn, cuồn cuộn và hung bạo dữ dằn khác thường. Tất cả như muốn nhấn chìm những con tàu nhỏ bé, từng cánh chim hải âu chập choạng trên mặt nước… Đứng trên lan can ngọn hải đăng, từng hạt mưa nhỏ táp lên tóc, lên áo của tôi, mưa biển lạnh hơn trong đất liền. Bên tôi, những người lính đảo kiên định, mắt dõi ra ngoài khơi, sóng bộ đàm hoạt động miệt mài trong sự nỗ lực không mệt mỏi.
Họ đang kết nối với đội tìm kiếm cứu nạn trên biển để huy động ngư dân trở về đảo và đất liền. Họ đang kết nối để tìm những tín hiệu cấp cứu của người bị nạn trong cơn bão gió… Sẽ có nhiều điều thay đổi kỳ diệu đang đến trong ánh mắt, trái tim và tiếng nói ấy. Một cảm giác yên bình và thân thương giữa biển khơi đầy gian khổ của những chiến sĩ trên hòn đảo này. Ngoài kia, sóng to đang tràn đến, những khối nước khổng lồ xanh thẫm ập lên, gió rít từng hồi, tiếng chim kêu tìm đàn, tiếng vặn mình răng rắc của những gốc cây cổ thụ..
Trước hiểm nguy, những người lính vẫn cười, nụ cười rắn rỏi đầy lạc quan trước biển. Tôi thầm nghĩ, chỉ có những ý chí bằng thép, trái tim nhiệt thành và tình yêu quê hương thật sự từ tấm lòng mới đủ sức vượt qua bao giông bão, hiểm nguy và cả những nỗi cô đơn, nỗi nhớ.
Hương vị của bữa cơm chia tay còn đọng lại trong tâm trí tôi. Những món ăn do chính người lính biển nuôi, trồng, chuẩn bị. Mỗi luống rau thấm đẫm giọt mồ hôi và công sức người lính. Những chuồng gà, chuồng lợn được các anh tự tay xây lợp bằng đủ thứ nguyên vật liệu, cắt người trông nom, chăm sóc cần mẫn, chu đáo! Thậm chí, để cho gà ăn, các anh phải đi bộ cả cây số vì gà được nuôi trên cây cao để tránh thú rừng và chuột. Khi gà lớn, lại được chia ra thành từng ô chuồng nhỏ cho tiện việc chăm sóc, theo dõi… Mỗi khi có gà đẻ trứng, cả tiểu đội mừng vui với thành quả lao động, nâng niu và dành dụm. Chỉ khi nào có ai ốm đau, mới được mang ra bồi bổ…
*
Tiếng còi tàu đã hụ vang báo hiệu giờ chia tay. Đứng trên boong tàu, tôi nhìn thấy bóng Thuần và những người lính trong bộ quân phục. Tàu dần xa. Tiếng Thuần nói vọng theo mồn một, giọng nói ấm áp vang vang, át cả tiếng sóng biển.
- Tạm biệt đất liền. Nhớ ra thăm nhau nhé, đất liền ơi!
Tôi bật khóc giữa muôn trùng sóng nước! Nhất định, sẽ không thể là chuyến đi cuối cùng, vì tôi còn nhiều duyên nợ với đảo khơi, một phần máu thịt của chủ quyền lãnh thổ.
Truyện ngắn của BÙI THU HẰNG