Môi trường

Nguồn nước ngầm đối mặt nguy cơ cạn kiệt

BẢO CHÂU - TRUNG KIÊN 16/03/2026 14:30

Nguồn nước ngầm trên địa bàn thành phố đang đối mặt nhiều thách thức nghiêm trọng, nguy cơ cạn kiệt nguồn dự trữ và gia tăng ô nhiễm.

Suối.CS 1
Đông đảo du khách trong và ngoài thành phố đến tham quan, check-in suối Côn Sơn sau khi được khôi phục dòng chảy.

Tác động từ việc sụt giảm nguồn nước ngầm

Những ngày qua, người dân thành phố và đông đảo du khách phấn khởi thấy suối Côn Sơn được phục hồi. Đây là kết quả của sự nỗ lực, quyết tâm rất cao của lãnh đạo thành phố Hải Phòng. Song, để giữ gìn dòng suối được chảy mãi, vai trò của mực nước ngầm là rất quan trọng.

Năm 2023, nhóm nghiên cứu Viện Thuỷ công thực hiện đề tài nghiên cứu đề xuất giải pháp duy trì dòng chảy suối Côn Sơn. Kết quả khảo sát chỉ ra nguyên nhân hàng đầu khiến suối Côn Sơn mất dần nước và trở nên khô cạn bắt nguồn từ sự suy giảm mực nước ngầm. Số liệu thống kê cho thấy, năm 2005, người dân khoan sâu 30 m có nước. Đến năm 2023, độ sâu mực nước ngầm giảm thêm 40 m, người dân phải khoan sâu tới mức 70 m mới có nước. Mực nước ngầm là nguồn cung cấp quan trọng để duy trì dòng chảy trên suối Côn Sơn vào mùa khô. Nước ngầm sụt giảm, suối bị suy kiệt.

Sự suy giảm nước ngầm ở khu vực suối Côn Sơn được ghi nhận do dân số toàn vùng tăng 25%, diện tích dân cư tăng 13%, kéo theo gia tăng việc xây dựng nhà ở, làm giảm diện tích mặt đất tự nhiên để bổ cập tự nhiên nước mặt cho nước ngầm. Mặt khác, hầu hết người dân trong vùng đều sử dụng giếng đào hoặc giếng khoan phục vụ cho sinh hoạt và tưới tiêu.

Câu chuyện về suối Côn Sơn cho thấy cần có giải pháp tổ chức khai thác, sử dụng hợp lý hạn chế tác động tiêu cực đối với nguồn nước ngầm.

Thời gian qua, việc khai thác nguồn nước ngầm còn những hạn chế. Kết quả quan trắc nước dưới đất giai đoạn 2021 - 2024 cho thấy chất lượng nguồn nước ngầm tại một số khu vực phía đông thành phố xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm đa thành phần, bao gồm: vi sinh, dinh dưỡng, chất hữu cơ và kim loại. Các dạng ô nhiễm này chủ yếu bắt nguồn từ các hoạt động can thiệp trực tiếp vào tầng chứa nước như khoan, đào giếng, khai thác nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, cũng như hoạt động khoan khảo sát địa chất.

Năm 2023, Sở Tài nguyên và Môi trường (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường) quan trắc nước ngầm của 9 địa phương khu vực đông Hải Phòng. Huyện An Dương, nay là các phường: An Phong, An Hải và An Dương có mức độ ô nhiễm nước ngầm nhiều nhất. Nguyên nhân do khu vực này còn nhiều giếng khoan chưa được trám lấp theo quy định.

Tại khu vực phía tây thành phố, ô nhiễm nước dưới đất chủ yếu mang tính chất nội sinh do đặc điểm địa chất, thể hiện qua nồng độ cao của các thông số Fe, Mn, Clorua và độ cứng. Ngoài ra, sự xuất hiện của NH₄⁺-N trong nước ngầm có thể liên quan đến quá trình thấm lọc từ nguồn nước mặt xuống các tầng đất, làm gia tăng hàm lượng Amoni trong các tầng chứa nước dưới đất.

Ngoài ra, còn có nguyên nhân hệ thống bể tự hoại được xây dựng, bố trí chưa phù hợp làm thất thoát các chất ô nhiễm, ngấm vào nước ngầm. Nhiều bãi chôn lấp rác thải tự phát, bãi rác tạm không có hệ thống thu gom nước rỉ rác, lớp lót ngăn nước rỉ rác thấm qua đất vào hệ thống nước ngầm.

Phân vùng quản lý và bảo vệ

Nguồn nước mặt ô nhiễm ngấm vào đất gây suy giảm chất lượng nước ngầm.
Nguồn nước mặt ô nhiễm ngấm vào đất gây suy giảm chất lượng nước ngầm.

Trên địa bàn thành phố, lượng nước ngầm có thể khai thác (bằng 30% tiềm năng tài nguyên nước ngầm), khu vực tây thành phố hơn 2 triệu m3/ngày, khu vực đông thành phố hơn 929 m3/ngày.

Để quản lý, khai thác hợp lý, thành phố thực hiện phân vùng. Theo đó, vùng A (bảo vệ nghiêm ngặt, dự trữ chiến lược), ít có dấu hiệu ô nhiễm, ưu tiên cấp nước sinh hoạt, cấm, hạn chế khai thác mới, bảo vệ miền cấp, các giếng khoan cũ được bảo quản thành giếng dự phòng khi nước mặt ô nhiễm.

Vùng B là khu vực có hiệu ô dấu hiệu ô nhiễm cục bộ, có biện pháp khai thác hợp lý và bảo vệ khỏi ô nhiễm, ưu tiên trám lấp giếng phải trám lấp; kết hợp điều tra, đánh giá để xác định cụ thể trữ lượng và chất lượng. Vùng C cấm khai thác tập trung để tránh tăng nguy cơ xâm nhập mặn, cần có kế hoạch quản lý rủi ro xâm nhập mặn.

Theo quy hoạch tài nguyên nước thành phố tích hợp trong quy hoạch thành phố thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn 2050, giai đoạn 2025 - 2030, tại khu vực tây Hải Phòng, khoan bổ sung 15 - 20 giếng dự phòng tại vị trí chiến lược tại các khu vực Chí Linh, Nam Sách, Tứ Kỳ; duy trì giếng đã khoan nhưng chưa khai thác để sẵn sàng đấu nối.

Tại khu vực đông Hải Phòng, quá trình khảo sát xác định nguồn nước ngầm có chất lượng tốt thường nằm ở độ sâu 150m - 380m, ít chịu ảnh hưởng của ô nhiễm bề mặt và xâm nhập mặn. Do đó, thành phố thực hiện khảo sát địa chất thuỷ văn chi tiết, xác định các khu vực có trường giếng sâu, cách xa bờ biển và khu công nghiệp làm nguồn dự phòng cho các nhà máy nước An Dương và Vĩnh Niệm.

Thành phố tăng cường điểm quan trắc chất lượng nước ngầm. Hiện nay, toàn thành phố có 37 điểm quan trắc định kỳ chất lượng nước ngầm, trong đó khu vực phía tây thành phố có 11 vị trí; khu vực phía đông có 26 vị trí.

Được giao nhiệm vụ tham mưu với UBND thành phố thực hiện nhiệm vụ quản lý tài nguyên nước, trên cơ sở khảo sát thực tế, Sở Nông nghiệp và Môi trường đề xuất bổ sung thêm 1 điểm quan trắc với 3 công trình nước ngầm tại khu vực Tiên Lãng; lưu vực sông Hồng - Thái Bình được quy hoạch bổ sung 79 điểm với 131 công trình khai thác nước ngầm. Tần suất quan trắc tối thiểu 4 đợt/năm; bảo đảm xác định các thông số tối thiểu gồm: PH, TDS, chỉ số pecmanganat, NH4+, NO3-, Fe, As.

Sở Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu tổ chức được cấp phép khai thác, thăm dò áp dụng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, đồng thời tham mưu với thành phố ưu tiên khai thác quy mô tập trung bằng các giếng khoan công nghiệp. Sở tăng cường kiểm tra, hậu kiểm sau cấp phép khai thác; xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ tài nguyên nước làm ô nhiễm nước ngầm.

BẢO CHÂU - TRUNG KIÊN
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Nguồn nước ngầm đối mặt nguy cơ cạn kiệt