Truyện ngắn

Nơi ấy là cửa biển

Truyện ngắn của ĐẶNG THỊ THÚY 02/09/2025 10:00

Truyện ngắn “Nơi ấy là cửa biển” của nhà văn Đặng Thị Thúy khắc họa chân thực cảm xúc của nhân vật Vui - chàng trai người Hải Phòng xa quê hương khi vừa mười sáu tuổi...

00:00

noi ay la cua bien
Minh họa: ĐẶNG TIẾN

Đêm khuya lắm rồi mà Vui vẫn chưa ngủ. Vui ngồi dựa lưng vào đầu giường. Trên đùi là chiếc iPad với giao diện của trang Facebook. Vui dán mắt vào màn hình, chăm chú đọc dòng chữ vừa hiện lên sau tiếng “tích”:

Cửa biển: Ông đi ngủ đi, bên ấy đã là 2 giờ đêm rồi đấy?

Vui mổ cò trên bàn phím, rồi nhấn enter:

Nhớ quê hương: Chưa ngủ. Già rùi. Khó ngủ lắm.

Cửa biển: Ngủ đi, mai còn lấy sức mà làm.

Những dòng hội thoại cứ thế nối tiếp nhau:

Nhớ quê hương: Tui làm cái nghề “Quanh năm xoong chảo đen xì/ Nước sôi ùng ục thấy gì tương lai”. Ngủ sớm hay ngủ muộn chả ảnh hưởng gì đến hòa bình thế giới đâu bà ơi.

Cửa biển: He, thế thì chém tiếp chút nữa, rồi tôi phải tập trung làm việc, 8 giờ rồi, muộn mất.

Nhớ quê hương: Tôi có quà cho bà đây, nhận nhé: “Ngày xưa thắt đáy lưng ong/ Giờ đây đi chật cửa phòng vậy sao/ Thôi về nhớ tập thể thao/ Ăn ít một chút cho hao ... mỡ phần”- haaaaa…

Cửa biển: Trả hàng này: “Bắc cước Tỷ mới luyện 1 năm//Thế mà khối kẻ đã bị băm/ Đệ mà loạng quạng thì đừng trách/ Kẻo lại kêu: "Trời, Tỷ chơi khăm".

Nhớ quê hương: hiiii, bà vẫn ứng khẩu nhanh đấy nhỉ. Làm thơ tặng bà xong, tôi cười đến nỗi miệng chưa ngậm lại được. Bây giờ con ngan nhà tôi mà tỉnh dậy nhìn thấy, có khi tưởng tôi điên, kakakaka…

Vui bật cười. Giật mình nhìn sang bên. “Con ngan” nhà Vui vẫn ngủ say sưa. Vui chát tiếp một lúc nữa, đến khi cô bạn thoát mạng Vui mới tắt máy đi ngủ.

Cửa Biển là cô bạn thân học hồi cấp 2 mà Vui mới tìm lại được sau hơn hai mươi năm bặt tin. Cửa Biển chỉ là nickname, nhưng Vui lại thích coi đó là tên thường gọi của cô ấy, vì nó khiến cho Vui cảm thấy thân thiết hơn, gần gũi hơn với quê hương mình. Vui thấy cái tên ấy còn có gì đó mang đặc trưng tính cách của con gái đất Cảng, những thứ rất riêng mà Vui chỉ cảm nhận được chứ không thể diễn tả bằng lời. Mỗi lần thấy cái tên đó hiện trên dòng status, Vui lại thấy gương mặt cô bạn cười rạng ngời, cái cười kiêu hãnh kiểu: “Vâng! Tôi là con gái Hải Phòng!”.

Kéo chăn đến ngang ngực, Vui nhắm chặt mắt, nhưng niềm vui tưởng nhỏ nhoi ấy khiến cho đầu Vui vẫn tỉnh như sáo. Đã gần một tháng nay, lịch sinh học của Vui bị đảo lộn hết cả. Trước đây, cứ sau một ngày làm việc mệt nhọc, buổi tối Vui bật TV xem kênh VTV4 một lúc rồi đi ngủ ngay.

Nhưng những ngày này, hôm nào Vui cũng thức khuya, thậm chí Vui còn mong ngày làm việc chóng kết thúc để Vui còn lên mạng chát với bạn bè. Cái Facebook này hay thật, nhờ nó mà người ta có thể tán chuyện với nhau dù ở cách xa hàng chục nghìn cây số.

Nhờ nó mà người ta có thể tìm thấy nhau dù bặt tin đã mấy chục năm ròng. Trước đây, mấy đứa con suốt ngày dán mắt vào điện thoại, Vui ghét. Càu nhàu. La lối. Bọn chúng vẫn không thôi. Vui vào thử xem có gì mà bọn chúng nghiện thế.

Vui lấy nick là “Nhớ quê hương”, upload cái bản mặt phèn phẹt, kèm quả kính cơn đen sì mà Vui tự chụp bằng điện thoại lên làm hình đại diện. Rồi một ngày đẹp trời, bỗng dưng có cái nick “Cửa Biển” nhảy vào: “Hây, Vui béo phải không”.

Vui bấm, xem cái hình đại diện, nhận ngay ra là cô bạn học hồi nhỏ, tên My. Mừng quá, chát luôn. Qua My, Vui tìm lại được biết bao bạn bè, có người cùng ở Đức mà Vui không biết, chỉ cách thành phố nơi Vui sống có ba trăm cây. Có người làm việc ở Úc, ở Ấn Độ… còn phần đông vẫn ở Việt Nam. Mà chả ở đấy thì ở đâu. Quê cha đất tổ ở đấy, sinh ra, lớn lên ở đấy, già thì đào sâu chôn chặt ở đấy. Mấy ai xa quê như Vui đâu.

Tìm lại được bạn bè, dù chỉ được trò chuyện và nhìn thấy nhau qua màn hình điện thoại hay máy tính, Vui vẫn thấy thật hạnh phúc và ý nghĩa. Vui thấy như vừa tìm lại được quê hương. Mới đấy mà đã hơn ba chục năm rồi. Lớp Vui xưa là lớp chọn của trường nên bạn bè Vui ở Việt Nam khá thành đạt, đứa là tiến sĩ, thạc sĩ, đứa làm giám đốc này, trưởng phòng nọ.

Mấy đứa đang ở Úc và Ấn Độ thì toàn làm việc tại Đại sứ quán, Lãnh sự quán Việt Nam. Vui lại buồn. Bao năm vất vả mưu sinh xa quê từ thuở mười sáu tuổi, giờ kinh tế mới gọi là tạm ổn. Vui nén tiếng thở dài, nhìn sang bên cạnh, “con ngan Tây” nhà Vui vẫn say giấc nồng.

Vui cứ nằm như thế, hai tay đan vào nhau gối dưới đầu, mắt chăm chắm nhìn lên khoảng không trước mắt. Bao ký ức của những ngày thơ ấu, tưởng quên, nay lần lượt sống dậy. Vui nhớ những tháng năm học trò. Nhớ ngôi trường với dãy nhà cấp bốn cũ kỹ rêu phong. Nhớ lại từng gương mặt thầy cô, bạn bè trong tấm hình mà bạn Vui post lên Facebook hôm trước.

Thầy Quang chủ nhiệm và dạy môn Văn. Vui học kém Văn nên bố mẹ gửi học thêm ở nhà thầy cùng Sỹ và Lê Anh. Ba đứa bọn Vui có lần còn lục nồi cơm nguội nhà thầy. Cô giáo dạy Toán mà bọn Vui gọi là cô Nguyệt trẻ, bởi đúng là cô trẻ so với tuổi, vóc dáng đẹp, làn da trắng mịn và khuôn mặt xinh một cách quý phái. Cô nghiêm khắc nhưng cũng rất tâm lý và thương yêu học sinh nên đứa nào cũng quý cô.

Rồi cả thầy Phồn dạy Vật lý, thầy Dưỡng dạy Sinh học. Từng gương mặt các thầy cô và những giờ học cứ thế lần lượt hiện lên trong đầu Vui. Nhớ sao cái buổi sáng giữa mùa thu, đương giờ chào cờ, thầy Kim đang nhận xét thì một cơn gió heo may ào tới. Và một trận mưa lá phượng trút xuống sân trường. Học sinh đồng loạt ồ lên thích thú. Nhiều thầy cô giơ tay hứng lấy những lá phượng vàng ươm. Thầy Kim ngừng lời, dành những phút tĩnh lặng để mọi người cùng tận hưởng cái khung cảnh và khoảnh khắc thiên nhiên tuyệt đẹp ấy.

Rồi Vui nhớ lại những chiều được nghỉ học đi chơi. Cả bọn kéo nhau lén chui qua rào thép gai để vào sân bay quân sự gần trường, leo lên những chiếc máy bay đã cũ, giả làm phi công. Có hôm bị các chú bộ đội phát hiện, bọn chúng ù té chạy, có thằng bị dây thép gai cào chảy máu cả lưng. Ấy thế mà chẳng chừa. Như thể cái gì càng bị cấm thì càng có sức hút.

Vui nhớ từng con đường mòn, từng lỗ rào, từng rạch nước nơi bọn Vui “đột kích” vào sân bay. Cái sân bay ấy đến giờ vẫn được gọi bằng tên mà Pháp đặt từ hồi xây dựng năm 1912. Cái sân bay ấy chính là nơi ghi dấu chiến công oanh liệt của quân ta: phá hủy 59 chiếc máy bay và nhiều phương tiện quân sự của Pháp lúc bấy giờ, để làm nên chiến thắng Cát Bi rực lửa vào lúc 0 giờ 45 ngày 7 tháng 3 năm 1954 ấy.

Vui nhớ như in những con số, bởi ngôi trường Vui học mang tên Cát Bi. Hằng năm, mỗi dịp kỷ niệm chiến thắng này là một lần bọn Vui được các thầy cô ôn lại để ghi nhớ những phút giây hào hùng, oanh liệt ấy. Giờ đây nghĩ lại, Vui bỗng thấy thật tự hào về vùng đất nơi Vui được sinh ra và lớn lên. Hai mươi mấy năm xa rồi. Vui đã đi qua biết bao thành phố đông đúc, hiện đại của phương Tây, vậy mà từng cảnh vật, từng âm thanh vẫn hằn sâu trong Vui.

Vui nhớ những con phố đơn sơ nhưng lúc nào cũng nhộn nhịp, rộn rã tiếng nói cười. Nhớ cả những buổi sáng ồn ã trong dãy tập thể của công nhân nhà máy. Nhớ tiếng khoá cửa lục cục, tiếng chào hỏi nhau xôn xao, tiếng líp xe đạp kêu lách tách, ro ro theo những bóng áo xanh xa dần, trong đó có cả cha mẹ Vui. Ôi, nhớ… Mới nhớ có ngần ấy thôi, ruột gan Vui đã thấy cồn cào. Mắt Vui bỗng cay xè. Và rồi dòng nước ấm tràn ra hai bên thái dương của Vui.

*

Có một hôm, sau khi nghe Vui bộc bạch tâm tư và nỗi nhớ quê hương, Cửa Biển an ủi:

- Ông đừng buồn, hãy thử nghĩ và tìm cách quay trở về xem sao. Ông có quyền trở về bất cứ khi nào ông muốn cơ mà. Và nếu có thể, hãy nghĩ xem mình còn làm được gì hơn nữa cho quê mình.

- Tôi hỏi thật, nếu giờ tôi về làm tiệm ăn ở Việt Nam, bà thấy có được không? - Vui đột nhiên chuyển mạch câu chuyện sang hướng khác.

- Tiệm ăn Nhật, giống như cái ông đang làm ở Đức ấy hả?

- Ừ.

- Ơ, được quá đi chứ, Hải Phòng mình hình như chưa có cái nào. Mà làm tiệm ăn ở cái thành phố đông đúc này, đã ai không trụ nổi đâu. Luôn đi thôi?

- Luôn thì đã sướng, tôi còn vướng những ba toa đằng sau, tôi muốn chúng được học hành tử tế bên này, tương lai mai sau tính tiếp. Con ngan nhà tôi thì đơn giản, mấy lần tôi dò ý, thấy không phản ứng chuyện về sống ở Việt Nam. Hắn bảo tôi đi đâu, hắn đi đó.

- Nhất ông rồi. Vậy thì vấn đề còn lại của ông là phải cân nhắc, tính toán thật kỹ thôi. Trai Hải Phòng sợ gì sóng gió, vất đâu chả kiếm được ăn.

- Làm đủ ăn không tính làm gì, tôi có dự định lớn hơn, tính mở cái gì đó ở Việt Nam để các em tôi làm ăn, chứ chúng còn lông bông lắm.

Thế là, câu chuyện của hai người bạn quay hẳn sang chủ đề làm kinh tế. Nếu giữa thành phố Cảng, và rồi ở nhiều thành phố khác của Việt Nam mọc lên những nhà hàng chuyên cá ngừ thì sao nhỉ, với những món ăn đúng phong cách Nhật và cả những món cá đặc trưng, truyền thống của Việt Nam? Làm thế nào để ngư dân Việt Nam có tàu vỏ sắt hoặc tàu lớn hiện đại hơn, vững chãi hơn để vươn khơi bám biển. Nếu họ biết cách đánh bắt, bảo quản cá ngừ đại dương theo đúng tiêu chuẩn thì con đường nào, phương cách nào để những con cá ấy được xuất sang Nhật Bản mà vẫn còn tươi nguyên?

Bấy nhiêu câu hỏi họ đặt ra là bấy nhiêu bước trong bản kế hoạch dần được định hình. Vui chỉ băn khoăn: Liệu Vui có thuyết phục được thầy Kato Hitoshi đồng ý hợp tác, chuyển giao phương pháp đánh bắt, bảo quản cá ngừ đại dương hay không mà thôi.

Những băn khoăn lo lắng, Vui không dám nói ra với Cửa Biển. Trước khi thoát mạng, Vui không quên dặn cô bạn liên lạc sớm với Hải, một người bạn cùng lớp hiện đang làm cán bộ quản lý ở một tỉnh miền Trung.

*

Sau đêm ấy, Vui mất ngủ thêm mấy đêm liền. Khi đã cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng lại tất cả mọi vấn đề, Vui quyết định bay sang Nhật thăm thầy Kato sớm hơn thường lệ, cũng là để xin ý kiến và bàn chuyện với thầy.

Thầy Kato đang là Giám đốc điều hành của một công ty xuất nhập khẩu và kinh doanh chuỗi cửa hàng hải sản tại Nhật. Thầy còn là một thành viên tích cực của Hội hữu nghị Nhật – Việt tại Sakai. Sau khi nghe Vui trình bày dự định và kế hoạch, thầy không giấu được vẻ vui mừng:

- Ồ, vậy là thầy trò ta cùng tư tưởng, chí hướng rồi.

Thầy dành suốt buổi hôm ấy để phân tích với cậu học trò quý mến của mình về vấn đề mối quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng giữa Nhật Bản - Việt Nam. Thầy cung cấp thêm cho Vui nhiều thông tin hơn về việc hợp tác đánh bắt cá trên biển Đông.

Nghe thầy nói, Vui không kìm nổi vẻ sung sướng, bật hẳn người lên:

- Thầy, vậy là con lại gặp vận may rồi.

Thầy Kato góp ý cho kế hoạch của Vui, không quên nói với Vui rằng, sức mạnh lớn nhất không gì khác chính là nội lực của chính bản thân mình. Thầy hứa sẽ ủng hộ và giúp Vui thực hiện những dự định tốt đẹp ấy.

Khi chia tay Vui, giọng thầy đột nhiên lắng xuống, đầy xúc động:

- Thầy bất ngờ khi con quyết định sớm thế. Dù có đi đâu, cuối cùng rồi cũng phải về nhà thôi, con ạ.

*

- Xong cả rồi, bà ạ.

Vui hồ hởi khoe với cô bạn khi đèn chat phía cô ấy bật xanh. Chưa kịp chờ bạn trả lời, Vui tiếp:

- Một mình tôi về trước, vào thẳng miền Trung với thằng Hải luôn rồi mới quay ra đó với các bà.

- Đi bước nào chắc bước đó nhé.

- Biết rồi, bà cứ nhắc thừa. Tôi sẽ về đó đúng ngày Tết Độc lập luôn, để được sống trong cái không khí tưng bừng mà bao lâu nay tôi chỉ thấy trên TV thôi, xem cảm xúc thế nào. À mà này, sao bà lại lấy nick là Cửa Biển? Cái tên của bà làm tôi luôn thấy ấm lòng mỗi khi nhắc đến.

Một khoảng lặng khá dài trôi qua, trước khi những dòng chữ mới hiện lên:

- Vì ở nơi ấy, tất cả các dòng sông đều cuồn cuộn uốn mình trước khi hối hả ùa ra biển lớn, để lại mỡ màu phù sa bồi đắp cho những bãi bờ. Vì đấy là nơi dang rộng vòng tay chở che cho những con thuyền mỏng manh vào trú đậu, tránh cơn bão tố phía khơi xa. Đấy cũng là nơi dịu dàng và ân cần chào đón những con tàu hân hoan trở về sau chuyến hải hành dài vạn dặm. Nơi ấy là cửa biển.

Cảm giác rạo rực dâng đầy trong Vui sau dòng tin nhắn ấy. Mắt Vui nhòe đi. Vui thấy hiện lên hình ảnh những con tàu đánh cá lừng lững vươn khơi. Vui thấy những ngư dân vững vàng hiên ngang nơi đầu sóng. Vui thấy những khoang tàu đầy ắp cá tôm về bến mỗi bình minh. Những con cá ngừ da xanh ngắt được chuyển đến các cửa hàng, được đi máy bay sang Nhật. Vui đứng đó, giữa vòng tay thân thương, yêu mến của bạn bè, giữa rừng cờ hoa rực rỡ của ngày Tết Độc lập. Tim Vui nghẹn lại. Vui không còn là người Nhớ quê hương nữa.

Vui phải về. Vui phải về thôi!

Truyện ngắn của ĐẶNG THỊ THÚY
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Nơi ấy là cửa biển