Đi tầu đường Năm

25/12/2011 10:25



Minh họa: Phùng Anh Bản


Tầu sắp lăn bánh thì một cô gái đẹp và lạ từ đâu đến đòi chỗ. Bàn tay trắng trẻo từ tốn đưa ra tấm vé: "Cho cháu xin 37". Tưởng bạ đâu ngồi đấy. "Không". Cô gái đeo cái túi đủ màu, đôi mắt mở to thoảng màu xanh da trời Bắc Bộ, thốt một tiếng như vậy. Thời buổi có cái khác rồi, không như tầu đường Năm trước đây. Giọng bách tính, nói như Tây Thi và Ngô Phù Sai, xía vào. Anh chàng tự xưng là doanh nghiệp, đi dày mõm ngóe bóng lộn, không ăn nhập mấy với mặt và dáng, từ nãy anh anh em em như ruột thịt, bỗng trở chứng: "Thôi thì trả chỗ người ta". Của tội, đó là một cô gái đẹp. Tôi là thứ cùng giới lại có chút hôi hám thì bị "đẩy" cũng là đương nhiên.

Con tầu qua sông Hồng, khung cảnh bên ngoài có một vẻ đẹp đến khó tả. Sương sớm bay mờ từ xa. Vòm trời bỗng như dồi cao lên, rồi thấp xuống, như dợn sóng thời gian và cuộc đời. Tất thảy đất trời, sông nước, như pha một gam màu khó nói, mà đến con mắt họa sĩ cũng khó tả. Phù sa màu gạch cua. Màu men sứ Bát Tràng. Như cả đồng bằng Bắc Bộ đang tỉnh dậy, tiếng thở khỏe, đều đều. Lúc trước tầu leo lên các nóc nhà, từ phố Phùng Hưng. Người ta bắt đầu phơi hương. Hương mới phất, chân đỏ màu son, mình màu đất phù sa, chưa chín phơi la liệt trên các sân thượng, dưới gầm cầu. Cõi âm đã được chuẩn bị như vậy. Từ đây đến các nhà chùa, các nghĩa trang, bàn thờ tự. Bãi đất sông Hồng khi nước xuống, rộng nới ra, như eo cát biển màu trắng. Nó trắng ẻo như da một cô gái không khỏe, đang có việc. Giữa cái nền trắng ẻo ấy, giữa cái khí trời khí đất buổi sớm của con sông Hồng đang tỏa thành khói, bỗng có cảnh lạ: một bàn thờ sát mép nước. Nhìn kỹ có vàng, loại giấy vải trắng trắng, bóng người lụp xụp như ma. Người ta cúng cho người vừa chết đuối. Lùi bên trên quãng xa xa, lại một cảnh khác hẳn. Tường bao dài dằng dặc, vuông vức. Có thửa ruộng đến mấy trăm mét vuông. Đấy là đất của biệt thự. Thời buổi. Nhiều biệt thự trên đê đâu đó đang bị dỡ bỏ. Đây thì cứ xây.

Chán người già, chán tất cả. Đành lùi lên trên, lót tờ báo, ngồi bệt xuống sàn tầu. Một bên là bốn cụ bà, mỗi cụ mỗi kiểu. Một bên là bốn cô gái, mỗi cô mỗi kiểu. Các bà nhai trầu, các cô nhai kẹo cao su. Cô nào cũng dùng loại son nước da đẹp. Phải nói gái Bắc Bộ mà dùng son nước thì có cái đẹp. Một cô mắt kẻ xanh, nhìn qua rặng nhãn bên trái, hích vào vai bạn: "Kìa, Y Lan". Ý nói là đền thờ Nguyên Phi Ỷ Lan. Một cụ bà dừng nhai trầu, nói ngay: "Bậy, phải gọi là bà Ỷ Lan chứ cháu". Cả bọn con gái rích rích cười như chuột.
Các cụ bà thấy vậy lườm dài một cái, rồi nói với nhau: "Chẳng hiểu con gái con đứa bây giờ chúng nhỏ thứ nước gì vào mắt mà mắt đứa nào cũng loang loáng. Có đứa mắt như rắn ráo".

Một bà đeo chuỗi tràng hạt dài quá cỡ như đâu nhập vào các cụ bà. Cụ này có vẻ oai. Nào, nhường cho người ta ngồi ngoài, người ta xem tờ báo. Cụ không đeo kính. Cụ trải một tờ báo, tên báo là gì chẳng rõ, kín cả lên mặt bàn, như cái chiếu con. Đọc, cụ nhăn mặt. Cụ nói vọng lên, như quát con dâu: "Dào, báo với chí bây giờ. Trang ngoài nước thì toàn kể chuyện người Hồi giáo đánh nhau. Trong nước thì toàn các ông nhà thơ nhà thiếc gì đó mạt sát nhau. Như đây này. Chẳng ra làm sao sất".
Tôi động lòng bò đến, thưa:
- Nhưng người ta cũng còn cái tâm chứ, thưa cụ.
- Tâm với tính gì. Nói nhau cứ như mổ lợn.
Rồi cụ kể:
- Ông nhà tôi trước đây cũng tấp tểnh nghiệp văn nhân. Suốt ngày đàn đúm theo hầu tráp cái ông nhà văn lớn nào đó ở cùng làng, viết cái kiếp đường cùng. Đêm đêm cứ thắp đèn thì thầm với nhau như ma. Được cái chẳng bàn đèn hút xách gì sất. Cứ như bùa ngải với nhau. Nghĩ ghét mà cũng thương. Đến khi ông ấy ra Trà Cổ còn định đi theo. Tôi bảo: "Tôi cấm, không văn chương gì sất. Nó đâm lẩn thẩn ra. Đàn bà con gái chúng tôi dù có lạc loài mê đọc sách thì cũng đọc của ai, chứ không thèm đọc cái văn của nhà ông. Cứ ở nhà đó, canh nhà, vườn tược. Tôi đi buôn bán kiếm được, về có cơm ngon canh ngọt cho ông, lại có cả rượu chè nữa. Cũng sướng chán.
Các bà dớn dác, quyệt trầu ở miệng, chẳng hiểu ra làm sao cả.
Tôi động lòng, bèn đánh bạo, thưa:
- Sau cụ ông nhà ta ra làm sao hả cụ?
Cụ bà trầm hẳn xuống:
- Chuyện ông văn nhân nhà tôi ấy à. Chú đã có lòng, tôi cũng xin phép các bà đây. Chuyện còn dài lắm cơ, như cả đời người. Mà đời ai thì cuối cùng cũng có cái được cái chăng, cái thương cái hận, phải không các bà?
Tôi mạnh lên:
- Dạ, dẫu dài, cũng xin cụ cứ kể.
- Ừ, thì kể cho nó vui con tầu…

Cụ bà như một con gà mẹ, xòe rộng đôi cánh trong kỳ nuôi con. Cụ đang "nhập". Tôi là người gợi chuyện, cụ cũng chẳng thèm nhìn. Cụ hòa hẳn vào đám các cụ cùng giới, kể trầm xuống như thời trẻ, chỉ đủ cho các cụ bà nghe. Tôi thành như người nghe trộm. Ừ thì nghe trộm. Đi tầu, đừng trộm cắp, chứ nghe trộm cũng là chuyện thường.

Từ khi tôi ra lệnh cấm văn chương, ông ấy sinh bệnh lỳ. Nhất là khi cái ông nhà văn lớn nhân tình nhân ngãi bỏ đi tận đẩu tận đâu. Ông ấy quật lên để sống. Ông ấy bảo: "Đằng ấy đừng khinh tôi. Tôi không nổi lên bằng trang văn thì đã có cách. Chính đất tổ tiên đây, chứ còn đâu". Rồi ông ấy chìa thẳng bàn tay ra như một nhát dao. Tôi quen buôn bán, cũng sợ xanh mặt.

Nói là như cái VAC bây giờ, các bà ạ. Ông ấy khoanh vùng. Ông ấy xẻ nương, quật đất lên. Ông ấy bảo: "Tôi sẽ trồng nhãn và nuôi chó". Nói rồi làm thật. Ra cái người có cái máu văn tưởng họ dở hơi, nhưng đã nói là làm. Nói cho là cho. Chửi là chửi. Thù là thù. Lẫn và không lẫn. Mình, đàn bà con gái, sống cùng bố mẹ, đạo lý, chưa hiểu hết người ta. Nhiều khi có chút duyên, chút linh lợi, tưởng đàn ông chỉ có mấy loại: đần độn, trộm cướp hoặc quan lại. Thực ra cũng có nhiều người thường nhưng họ có cái linh khí đáng làm chồng mình. Khinh họ là có tội. Tôi nói có phải không các bà?

Được mùa dưa, thua mùa nhãn. Khổ cho cái ông văn nhân nhà tôi. Cữ ấy dưa được mấy mùa liền. Cứ vàng ươm cả ven sông. Mấy lô nhãn chỉ có hoa, không cho quả. Ông ta hằng ngày ra đứng nhìn trời, nhìn sông, nhìn rặng nhãn không nói câu nào. Đứng trơ như tượng. Nhưng không hề thở dài. Tôi chính chuyên chỉ đi trong tỉnh, đàn ông các vùng chưa biết. Nhưng đàn ông ở các rốn Bắc Bộ tưởng văn nhân ặt ẽo, hay a dua, nhưng lại có cái chí ngầm. Tưởng chỉ mê gái, mê văn, nhưng cũng biết mê làm giàu. Một buổi tối lạnh, ông ta vùng dậy, nói một mình như anh nát rượu:
- Tao nuôi chó!

Tôi thì cứ theo bạn, đi buôn chuyến ngắn dài. Một lần trở về, thấy ông phá sạch, xây tường bao. Ông ấy đón tôi đầu ngõ: "Không nuôi chó cảnh, vất. Chó cảnh cũng là văn chương. Tôi nuôi chó ta. Cầy ấy mà. Bà hiểu không?". Tôi bật cười, má đỏ. Ông ta bấu vào má tôi một cái rõ đau.

Xây tường bao chính là làm cái trại nuôi chó. Cũng cổng giả hẳn hoi. Đất Bắc Bộ mà xây tường bao thì đẹp lắm. Như một chàng trai đến thời làm ăn chỉnh chu. Lại còn cái khóa Tây, thật oách như Tây. Đàn chó đông không đếm hết. Phần nhiều là chó vàng và đen. Ông ta bảo: "Hết đen, ắt đến vàng". Ban đầu ông ta còn đặt tên từng con, theo kiểu văn vẻ: Con Thương, con Nhớ, con Giận, con Hờn… Tên chó như tên người… Chắc thỉnh thoảng ngài hận, nhớ cái ông bạn văn nhân xưa. Sau thì tùng phèo. Cả đàn, toàn chó tơ. Tiếng bắt đầu lan xa. Dọc đường Năm. Lên tận Châu Quỳ, Hà Nội, xuống tận Hải Dương, Hải Phòng. Các quán xá đánh hơi chó. Nhất là cầy tơ. Nhiều Tây mũi lõ cũng đã mê. Ông nhà tôi suốt ngày giữa bầy chó. Trước, mất mùa nhãn, ông ta ra sân đứng nhìn rặng nhãn, nhìn trời nước, như hoá tượng. Giờ đây, giữa bầy chó, cũng vậy. Hóa ra đàn bà chúng ta phải hiểu cho cái đam mê của đàn ông. Cứ cho họ chỉ biết mê gái, mê rượu, là có tội, là sai. Thiên tính của họ là khi chưa vào cuộc thì ặt à ặt ẽo, thậm chí như kẻ dở trò. Chứ đã vào cuộc gì thì họ say, họ mê. Thương lắm. Thế họ mới là người trận mạc được chứ. Phải không các bà?
Tôi chồm lên, giục:
- Cụ nói trúng rồi đấy. Xin cụ kể tiếp cho nghe.

Mấy bà đã có ý cười, bỏm bẻm nhai một loạt trầu mới. Hình như tâm tính các bà là thế, nhai trầu theo loạt. Cụ bà kể chuyện bây giờ có nét điềm đạm khác thường. Cụ kể.

Đầu tiên người ta đặt cho ông nhà tôi cái tên "Cờ tây". Tôi hoảng. Sau mấy cụ đồ giải thích cho: Đó là người ta quý, người ta nói lái, ý nói ông nhà giỏi nhất món nuôi cầy tơ. Sau các quán xá dọc đường Năm lại tặng cho cái tên mới: "Ông hạ cờ Tây". Lại có chút hoảng. Nhưng vững tâm hơn trước. Vì có làng nước mình. Đêm đêm ông ấy tỉnh dậy, lấy giấy bút ra ghi. Tôi đến gần: "Ông nhà ghi cái gì đó?". Ông nói thật: "Ghi lại cái cách nuôi chó". Đàn ông họ làm ăn nổi đình đám thì tính họ đằm. Họ không cồ như trước nữa đâu. Thương cái lũ trẻ gái bây giờ chưa biết điều đó, nên chưa hiểu đàn ông, sinh ra lắm thứ ly thân, ly dị. Các bà bảo tôi nói có phải không?

Có một chuyện vặt, cũng xin nói. Đừng để bụng. Mãi sau này có thằng cháu họ khôn vặt, làm đến một chức gì đó, có lần ghé nhà thì thầm với ông nhà tôi: "Thời buổi sống bằng danh. Thuở đẩu đâu ai biết là thế nào. Chú cũng từng đi hạ cờ Tây một thời. Cứ khai chú ạ, để mà được cái huy chương, để các em được cái lý lịch". Ông tôi quát:
- Anh nói gở. Cờ Tây của tôi chỉ là nuôi chó, công lênh gì đâu. Đừng đánh tráo người với chó. Anh biến đi cho tôi nhờ.
Cuối cùng, các bà ạ, ông nhà tôi nhắm mắt, khi đã giàu có nổi tiếng khắp một vùng. Trước khi vuốt mắt cho ông ấy, chẳng hiểu trời đất xui khiến thế nào, ông ấy còn dồn sức, thều thào:
- Bà cấm tôi yêu văn. Đáng tôi thay bằng yêu gái. Nhưng tôi thương và trọng cái lam lũ của bà. Đúng, bà đáng trọng. Có gì bà xá cho tôi bà nhớ…

Tôi đổ xuống người ông ấy, như cây chuối. Dưới tôi là một tảng băng giá, một tảng băng giá giàu có. Nhờ Trời Phật, gặp thời vận, chỉ nhờ nuôi chó. Tôi khóc đến cạn người. Suốt đời cũng có ôm mối hận. Đàn ông họ thế đấy. Họ quên tất nhưng lại nhớ tất. Phút lâm chung, ông ấy còn nhắc đến văn. Đáng để ông ta yêu văn một chút để khi nhắm mắt cho thỏa, thì cũng chẳng sao. Phải không các bà. Hình như linh hồn ông ấy còn lấn bấn điều gì giữa giàu và nghèo, giữa văn và chó. Tôi khóc. Theo văn chương mà nghèo, nhờ chó mà giàu, trở thành triệu phú. Chẳng hiểu khi đã khuất bóng, linh hồn ông nhà tôi nghĩ ngợi thế nào?

Tất thảy các bà ngừng nhai trầu, cúi xuống, như mặc niệm. Toàn tóc bạc trắng, như một vầng mây trắng ở ngọn nguồn sông Hồng vậy…

Đám con gái bắt đầu sang chiến dịch hạt dưa. Nhoáng cái, bàn tay trắng trẻo tung vỏ hạt dưa qua cửa tầu như vãi trấu. Dừng một chút để tả cái tầu đường Năm. Các cửa có lưới sắt phòng ném đá gây tai nạn, nhìn như cái chuồng. Ở giữa các toa treo lủng lẳng dây hoa nhựa như dây bìm bìm. Cậu lùn đeo băng ở tay, kéo sệt cái làn mây, cười nói hồn nhiên như trêu người ta: "Bánh gai, bánh đậu xanh liên tục phát triển đây. Nhớ mua ngay. Miễn góp ý". Rồi nghiêng hẳn xuống, nói thầm: "Ngon lắm chú ạ. Mua cho cháu mấy chiếc".

Dẫy ghế sau có tiếng nhà binh: "Các cháu đừng vãi hạt dưa, vào mắt người già". Tất cả cười rích lên như chuột. Tôi ngoái đầu: "Anh người đâu ta?". Nhìn mặt, anh ta từ tốn: "Dạ, em Nam Sách".
- Anh ta hỏi:
- Anh cũng lính chứ?
- Có.
- Quảng Trị chứ?
- Có.
- Thương tật chứ?
- Có.

Vậy mà trông ông anh béo quá. Anh ta nói, thương chứ không ghét. Trong giọng và ánh mắt, có rưng rưng của cái tâm. Còn nặng chút tình đồng đội. Anh ta kể, lên Hà Nội, thăm bạn đơn vị cũ, và làm cái cổng cho chú em ruột, cũng bộ đội. Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh. Đúng là người có số phận, anh ạ. Mắt anh ta rơm rớm. Thằng bạn tôi, cùng vào Nam 1965, đẻ 3 con, hai đứa đầu bị quái thai vì bố bị nhiễm chất độc hóa học, chết. Thật tội. Đứa thứ ba là gái, sống được, nhưng cũng nhiễm. Năm nay, cháu 17 tuổi, các bộ phận phát triển bình thường, kể cả cái khoản ấy, nhưng cứ như sọ dừa, không ngồi dậy được. Anh ta khóc. Tôi nắm chặt bàn tay "Nam Sách" gầy và lạnh giá của anh, như đồng đội trong chiến tranh, truyền chút hơi ấm. Thôi đồng chí ơi, kể chuyện khác đi. Tầu qua quãng thẳng, vun vút. Anh bạn lạnh toát cả người. Tỉnh, nói như mơ: Anh mừng cho chú em tôi. Mới học Bách khoa ra, vào bộ đội 92, bây giờ đã lên tá. Sướng như tiên. Chú vừa được đơn vị chia 100 mét đất. Cứ tính là trăm cây. Tôi bèn làm cổng rào tường cho chú ấy. Đấy, cái phận. Thương thằng bạn, mừng cho chú ấy. Anh ta lại khóc.

Tầu đường Năm có một ga lạ, đó là ga Cá Đồng, đâu quãng Cẩm Giàng. Cá quả và các loại cá, quẫy trong chậu nhựa, chậu nhôm. Cụ bà xen vào: Bị phong mà ăn phải cá quả là khốn. Phần nhiều chẳng bán được đồng nào. Đoàn tầu nhanh lại lao đi. Tầu nhanh mà bán gà luộc, hoa quả thì được, chứ bán cá sống thì hỏng.

Mắt anh bạn Nam Sách vẫn đỏ hoe. Các cô gái vẫn ăn hạt dưa, vãi như vãi hạt trên đồng bằng Bắc Bộ. Các cô làm mát xa, làm dịch vụ cho các nhà hàng trên Hà Nội, rủ nhau về quê. Các bà tiếp tục nói chuyện đi lễ chùa và chuyện quan lại thời nay tham nhũng. Chẳng chuyện nào ăn nhập với nhau.
…"Đưa người ta không đưa qua sông/Mà sao có sóng ở trong lòng/Nắng chiều không thắm, không vàng vọt/Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong..."

Đó là câu thơ nổi tiếng của một thi nhân, từng có một bài thơ nổi tiếng về con đường Năm.

Truyện ngắn của PHAN CUNG VIỆT

(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Đi tầu đường Năm