Nhiệm vụ đặc biệt

23/10/2011 09:49



Giữa năm 1971, tôi được điều về Đoàn 125, một đơn vị có cái tên gọi rất khác thường: Đoàn tàu không số. Tàu không số không phải vì tàu không có số. Tất cả mọi con tàu của Hải quân Nhân dân Việt Nam đều có số hiệu. Nó cũng như con người, phải có tên để phân biệt người này với người khác. Nó có hẳn một bản lý lịch rất cụ thể với "ngày sinh tháng đẻ", nơi sinh, từng ở nơi nào, làm việc ra sao. Và khi "chết" nó cũng có giấy khai tử đàng hoàng kèm theo lý do. Con tàu cũng như người cán bộ hoạt động bí mật trong lòng địch, phải luôn thay đổi tên họ, thay đổi nơi ở, trở thành vô danh để che mắt kẻ thù. Hôm nộp giấy điều động, đoàn trưởng vỗ vai tôi bảo: "Hoàng Vũ xuống tàu HQ-041 nhé! Chức vụ bí thư chi bộ kiêm chính trị viên trưởng. Sắp tới sẽ có nhiệm vụ đặc biệt giao cho tàu của cậu đấy. Hãy cố gắng làm tốt nhiệm vụ". Tôi chưa biết "nhiệm vụ đặc biệt" kia là gì, nhưng tôi hiểu rất rõ ràng rằng: Đất nước có ngoại xâm, nhiệm vụ của "anh bộ đội Cụ Hồ" là đánh giặc. Mà đã là đánh giặc thì nhiệm vụ nào cũng như nhau. Sao cứ phải phân biệt rạch ròi như thế.

Quê tôi ở cực Nam Trung Bộ, một tỉnh cằn khô sỏi đá, cát trắng nhiều hơn đất trồng màu. Năm 1954, tôi theo đoàn học sinh miền Nam ra Bắc tập kết. Năm đó, tôi mới 15 tuổi. Tôi ra Bắc với niềm hy vọng sau 2 năm sẽ trở lại quê nhà. Hôm đưa tiễn, ba má tôi và cả Mai, cô bạn hàng xóm cùng tuổi, đều giơ hai ngón tay: "Tạm biệt, tạm biệt nhé! Chỉ hai năm thôi. Chỉ hai năm thôi". Hình như Mai khóc. Tôi không có tấm hình nào của Mai. Nhưng hình ảnh Mai đứng trên bến sông, hai bàn tay úp mặt, hai vai rung lên nhè nhẹ cứ theo tôi suốt năm dài  kháng chiến. Mai thuộc diện xinh đẹp dịu dàng, nhưng mang nhiều nét buồn "bạc mệnh". Bà nội tôi vẫn thường nói vậy. Còn Mai lại bảo: "Thương má tảo tần hôm sớm, nên chả bao giờ vui được". Ba của Mai hy sinh ngay từ ngày đầu của cuộc kháng chiến chín năm. Nhà không còn anh trên em dưới. Hai mẹ con dựa dẫm vào nhau bươn chải sớm hôm mới tạm đủ sống. Cứ ngỡ hai năm sẽ được gặp lại người thân, nào ngờ đã 17 năm trôi qua, tôi chưa một lần được trở vê quê hương.

Xuống đến tàu, tôi vào gặp thuyền trưởng. Xong xuôi mọi thủ tục, tôi quay ra làm việc ngay. Tôi muốn thật nhanh chóng làm quen với mọi người, với công việc. Tôi sà vào đám đang cạo hà bám nơi vỏ tàu, cũng cầm "búa" băm từng con hà con ngao. Nước trong thân thể con vật chảy ra bốc mùi tanh lòm. Trong tiếng choang choang của búa gõ vào thành tàu, một cậu ghé tai tôi thét to: "Cậu mới đến hả? Trước ở đơn vị nào? Sao không nghỉ lấy một lát rồi hẵng ra làm?". Tôi cũng hét lên để trả lời. Chẳng biết cậu ta có nghe rõ không, chỉ thấy cái đầu gật lấy gật để. Tôi hỏi tên , cậu ta cũng gật. Thấy tôi cười cậu ta dừng búa hỏi: "Cậu cười cái gì vậy?". Tôi im lặng. Cho dù tôi có trả lời chăng nữa thì cậu ta cũng không thể nghe nổi trong mớ âm thanh hỗn độn đinh tai nhức óc. Đã là "lính" thì ở đâu cũng vậy: Lém lỉnh và nhộn nhạo. Giờ nghỉ, Chiến, vẫn cái cậu hỏi tôi đầu tiên, hất cái cằm nhọn như một mũi thương, hỏi: "Cậu bao nhiêu tuổi? Vợ con gì chưa?". Tôi đáp: "Ba mươi hai cái lá vàng rơi, chưa biết yêu là gì". Chiến cười to: "Nếu đúng vậy tôi xin  làm cầu nối với bà chị ruột. Hơi cứng một chút nhưng được học hành đến nơi đến chốn, chẳng kém ai. À mà... cậu... anh xuống tàu nhận nhiệm vụ gì đấy?". Tôi chưa kịp trả lời Chiến, thì một cậu nhanh hơn nói to: "Chị anh mà giống anh chắc hẳn... đẹp lắm nhỉ?". Tất cả cười nghiêng ngả. Một câu đùa vô tình khiến tôi nhớ tới má tôi có lần bảo: "Sau này con lớn, nơi đâu dễ sống thì lập nghiệp ở đó, về cái xứ sở này cơ cực lắm con ạ. Ba má già rồi ba má chết. Các anh, các chị rồi cũng kiến giả nhất phận. Quê cha đất tổ ai chả yêu chả quý. Nhưng khổ quá cực quá chịu sao thấu". Ý chừng mẹ tôi không đồng ý cho tôi sau này lấy vợ cùng quê. Lòng tôi không đành đoạn. Chưa một lần tôi dám nghĩ đến chuyện lấy vợ xứ người, để ba má tôi sống vò võ nơi quê nhà.

Con tàu vốn trước đây là tàu vận tải 2.500 tấn. Nay được xưởng X46 thay máy thủy lớn để tăng tốc độ chạy. Phía ngoài thay đổi toàn bộ phần kiến trúc. Trông nó giống như con tàu buôn của Đài Loan. Khoang chứa hàng được làm hai tầng đáy. Tầng trên xếp các loại hàng che mắt địch. Tầng dưới xếp các loại vũ khí đạn dược hoặc tùy theo chiến trường yêu cầu. Chính vì vậy, lượng hàng cần thiết chỉ được già một nửa.  Trong những ngày tiếp theo, chúng tôi tập luyện các phương án đã được ban chỉ huy đoàn vạch ra. Ai cũng có nhiệm vụ của mình. Thượng úy, thuyền trưởng Nguyễn Văn Tạo trong vai một "chú chiệc" Đài Bắc, khụng khiệng và kiêu căng. Trung úy, máy trưởng, Trần Đình Lân đóng vai người phiên dịch là vất vả nhất. Hai anh đều tốt nghiệp Đại học Ngoại ngữ khoa tiếng Trung nên phần ngôn ngữ không lo lắng. Chỉ cần dáng điệu cử chỉ của các anh phải thật đúng người Đài Bắc. Chúng tôi hiểu rằng chỉ một sơ suất nhỏ cũng đủ dẫn đến hậu quả khôn lường. Nhiều lúc những người ngồi ngoài hóng chuyện phải bật cười đến vỡ bụng vì nó cứ như đóng kịch ấy. Anh Tạo nổi khùng: "Mấy ông cứ vẽ chuyện. Việc chuyên chở vũ khí vào miền Nam đâu phải đây là lần đầu. Sao không làm như mọi bận ấy. Lợi dụng đêm tối, ta áp tàu vào điểm hẹn, chuyển vũ khí lên bờ. Xong. Tàu quay  ra. Chấm hết". Anh vò đầu bứt tai ra chiều khổ sở lắm. Đại tá, chính ủy đoàn cười, bảo: "Đây là nhiệm vụ đặc biệt, nên phương án luyện tập cũng phải đặc biệt. Các cậu phải làm quen với công việc mới của mình. Trước hết tư tưởng phải thông suốt nhiệm vụ". Nói vậy thôi chứ anh  em trên tàu đều tin tưởng ở mưu lược của cấp trên. Tuy mới gặp nhau, nhưng do được tuyển chọn trong cùng đoàn hoặc trong quân chủng, nên chúng tôi mau chóng hiểu nhau và thông thạo với công việc được giao. Nhưng cái "nhiệm vụ đặc biệt" kia là việc gì thì ngay cả tôi, một bí thư chi bộ, cũng chưa được biết. Chuyện bí mật tuyệt đối cho những chuyến đi đã được tất cả mọi người học tập quán triệt ngay từ ngày đầu mới về đơn vị. Kể cả với bố mẹ, anh em ruột thịt. Bởi nó không chỉ liên quan tới sinh mạng của nhiều người và con tàu mà còn ảnh hưởng tới toàn cục một trận đánh, một chiến dịch.

Rồi cái ngày mong chờ ấy cũng đến. Lúc này con tàu đã được xếp chặt cứng vũ khí và hàng ngụy trang. Toàn tàu được triệu tập lên hội trường. Mười chín con người đứng nghiêm chờ lệnh. Tư lệnh trưởng đoàn điềm đạm nói: "Nhiệm vụ của các đồng chí lần này vô cùng quan trọng và mới mẻ. Chiến trường miền Nam đang rất cần vũ khí. Mùa mưa đã làm  cách trở đường vận chuyển của ta từ rừng núi xuống đồng bằng, vào nội thành. Một khẩu súng, một viên đạn lúc này vào được thành phố quý hơn vàng. Điểm đến của các đồng chí nằm giữa lòng địch được bảo vệ vô cùng nghiêm ngặt. Rất nguy hiểm. Nhưng chúng ta lại có yếu tố bất ngờ mà kẻ thù không ngờ tới. Nói như vậy nhưng các đồng chí không được chủ quan khinh địch. Mọi việc trên tàu ban chi ủy phải cùng nhau bàn bạc kỹ. Đảng ủy, Bộ tư lệnh đoàn rất tin tưởng và mong các đồng chí thắng lợi trở về". Chúng tôi thật bất ngờ khi tư lệnh trưởng thông báo cho biết điểm đổ hàng của con tàu chính là cảng Sài Gòn. Dưới lá cờ Tổ quốc và chân dung Bác Hồ kính yêu, tôi thay mặt cán bộ, chiến sĩ trên tàu đọc 10 lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng, quyết lấy xương máu của mình tô thắm lá cờ Quyết Thắng của  Quân đội nhân dân Việt Nam, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đại tá, chính ủy đoàn  tỏ ý rất hài lòng. Ông lần lượt ôm hôn từng người. Ông chúc chúng tôi được chân cứng đá mềm, cưỡi gió đạp sóng thắng lợi trở về. Đây là nghi lễ của tất cả các con tàu mỗi lần bước vào trận đánh mới. Trong cuộc đời quân ngũ của mình, đây là lần đầu tiên tôi vinh dự được tham dự buổi lễ trọng thể như thế. Trong lòng tôi nao nao xúc động nhớ tới quê hương, nhớ tới người thân. Và chính trong cái nao nao ấy càng củng cố niềm tin tất thắng vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.

Giờ G+1, lệnh xuất phát, con tàu rung lên bởi tiếng động cơ thủy. Chào miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Chào đất liền thân yêu. Chúng tôi không ai bảo ai, những người không có nhiệm vụ chạy tàu, đều lên mặt boong giơ tay chào theo nghi lễ quân đội. Đêm tối như bưng lấy mắt. Không nhìn thấy gì hết. Trong buồng chỉ huy, dưới ngọn đèn nhỏ, thuyền trưởng và chiến sĩ hàng hải cúi gập người chăm chú kẻ vẽ trên tấm hải đồ trải rộng. Con tàu lúc này mang số hiệu và cờ của Hồng Kông. Đường hải phận quốc tế còn khá xa. Con tàu còn phải vượt qua nhiều bãi bom mìn, thủy lôi của giặc Mỹ phong tỏa lần trước. Tôi thầm cảm ơn những "con mắt thần" canh giữ biển khơi. Các anh đã không bỏ sót một quả bom nào của giặc, để bây giờ  cho con tàu chúng tôi vượt qua được dễ dàng. Gần sáng, con tàu ra đến hải phận quốc tế, lệnh: "Thay số hiệu". Lập tức lá cờ của Hồng Kông hạ xuống, thang treo buông ra. Người nào việc nấy. Lát sau con tàu lại mang số hiệu và cờ của Đài Loan. Mũi tàu bắt đầu chếch dần về phương nam. Chúng tôi gặp rất nhiều tàu của các nước qua lại. Họ chào chúng tôi. Và chúng tôi cũng chào lại họ. Dĩ nhiên đều bằng tín hiệu. Ngày bằng cờ, đêm bằng đèn. Đây cũng là điều thuận lợi, nên suốt hải trình trên vùng biển quốc tế chúng tôi không hề gặp điều gì trở ngại. Giữa trời nước mênh mông và sóng lớn, tôi cho anh em ôn luyện tất cả các phương án đã được học.

Con tàu cập cảng Sài Gòn lúc 18 giờ, sau 15 ngày lênh đênh trên biển. Việc cập cảng đơn giản hơn chúng tôi nghĩ rất nhiều. Hóa ra nơi nguy hiểm nhất lại là nơi an toàn nhất. Hẳn kẻ thù cho rằng chúng ta không bao giờ dám đưa cả một con tàu chở đầy vũ khí cập cảng quan trọng bậc nhất miền Nam này. Anh Tạo cùng cậu Lân nghênh ngang, kênh kiệu lên bờ vào phòng cảng vụ làm thủ tục nhập cảng. Cảng vụ trưởng là một lão già gần 60 tuổi, to béo và phong độ. Gã nhăn nhở: "Các ngài đến muộn quá. Người của hãng chờ suốt chiều nay. Giờ có lẽ về rồi. Các ngài vui lòng chờ sáng mai vậy". Thuyền trưởng Tạo đặt lên bàn của hắn năm tờ xanh loại mệnh giá 100. Gã cười lấy lòng: "Sáng mai, khi nào họ đến tôi sẽ cho người báo với ngài ngay. Còn đêm nay... các ngài cần gì xin cứ sai khiến. Hòn ngọc Viễn Đông này xin phục vụ hết lòng".Tạo cám ơn rồi quay về tàu. Cầu tàu của chúng tôi lập tức có hai tên quân cảnh bồng súng đứng gác. Đi qua mặt chúng, Tạo ấn vào tay mỗi đứa một tờ 50 "đô". Anh nói bằng tiếng Trung Quốc: "Cầm lấy, mua bao thuốc hút tạm". Chẳng biết chúng có hiểu tiếng Trung không, còn miệng thì lắp bắp: "Thanh kiu, thanh kiu". Đêm nằm trên đất địch thật hồi hộp và lo lắng. Kẻ thù đã biết gì về con tàu đặc biệt này chưa. Các phòng được lệnh tắt đèn. Những cặp mắt chong chong qua cửa sổ nhìn lũ quân cảnh tuần tra đi lại trên bờ cảng. Hai tên lính gác cầu tàu thi thoảng lại rì rầm nói chuyện. Suốt đêm chúng tôi không ai ngủ. Căng thẳng đến tột cùng. Chúng tôi sẵn sàng chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ con tàu và vũ khí, nếu như bị lộ.

Một đêm yên tĩnh trôi qua. Chưa có dấu hiệu nào chứng tỏ địch đã phát hiện ra chúng tôi. Sáu giờ sáng, cảng vụ báo tin: Chủ hàng đã đến. Chúng tôi ai vào việc nấy. Anh Tạo và cậu Chiến nhanh chóng chỉnh đốn y phục rồi lên bờ. Đại diện chủ hàng là một người đàn bà chừng ngoài 30 tuổi, xinh đẹp và đài các, ăn mặc đúng mốt, biểu hiện của một người giàu sang phú quý. Sau khi trao đổi mật hiệu, anh Tạo dẫn người đàn bà và toán người đi theo xuống tàu xem qua hàng hóa. Người đàn bà vừa đi vừa gật đầu. Xong xuôi, bà lên bờ vào buồng đàm thoại gọi xe. Từ khoang máy, tôi nhìn qua ô cửa sổ tròn nơi thành tàu chăm chú quan sát mọi biến động. Người đàn bà này có một nét gì đó quen quen. Tôi cố vắt óc nhớ xem đã gặp ở bến bờ nào. Chịu, không thể nhớ nổi. Một gã quân cảnh chắc vừa nói một câu bông phèng khiến người đàn bà kia mỉm cười. Cười bằng mắt. Cánh môi trái hơi nhếch lên. Ký ức tôi vụt mở. Hồi nhỏ, cạnh nhà tôi có con rạch nhỏ được dẫn nước vào đồng ruộng. Gần rạch có ngôi miếu nhỏ thờ ai không rõ. Mỗi bận mưa to, tôi và Mai thường ra đó thả những chiếc thuyền giấy. Lần nào Mai cũng ghé vào ngôi miếu. Tôi hỏi: "Qua làm chi?". Mai cười. Chỉ cười bằng mắt thôi, không có tiếng. Cánh môi trên bên trái hơi nhếch lên. Trời ơi! Mai của tôi đây ư? Nét cười của em không hề thay đổi. Tôi muốn thét to gọi tên em. Tôi muốn lao ra ôm lấy em. Mười bảy năm rồi. Mười bảy năm sống trong thương nhớ. Mai đứng gần tôi lắm. Gần lắm. Chỉ một cái với tay. Nhưng tôi không thể. Nhiệm vụ không cho phép tôi làm vậy. Tôi ép tim mình lại, gục đầu vào thành tàu nấc lên: "Mai ơi!".

"Nhiệm vụ đặc biệt" thắng lợi không thể tốt hơn. Con tàu trở về trong niềm hân hoan khôn xiết. Không ai biết nỗi buồn thăm thẳm trong lòng tôi. Nhưng tôi lại hy vọng ở chuyến sau. Chuyến sau, chuyến sau sẽ gặp lại em. Sau này nghe tôi kể lại, đại tá chính ủy đoàn chia sẻ: "Đấy cũng là một nhiệm vụ đặc biệt mà cậu phải chiến thắng và đã chiến thắng".

NGUYỄN SỸ ĐOÀN

(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Nhiệm vụ đặc biệt