Cụm di tích quốc gia đặc biệt Từ Lương Xâm ở phường Đông Hải (Hải Phòng) là đại bản doanh của Đức Vương Ngô Quyền trong chiến thắng Bạch Đằng năm 938.

Di tích quốc gia đặc biệt Từ Lương Xâm tọa lạc trên một khu đất cao, thoáng, bố cục kiểu “nội công ngoại quốc”, gồm các hạng mục: nghi môn, tiền tế, thiêu hương, giải vũ, từ chính, tượng đài và các công trình phụ trợ với diện tích 36.747 m².
Theo sử sách để lại, Từ Lương Xâm được xây dựng từ thời hậu Lê và trùng tu lại vào thời Nguyễn. Vì vậy, toàn bộ kiến trúc hiện nay mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, chỉ có một số chi tiết mang phong cách thời Lê.
Mặt chính của di tích nhìn về phía đông hướng ra cửa biển Bạch Đằng. Tương truyền để chuẩn bị cho trận Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền đã chọn nơi đây đặt đại bản doanh để quan sát và chỉ huy trận Bạch Đằng lịch sử. Ông đã chỉ huy việc xây dựng bãi cọc, bố trí lực lượng, tổ chức trận địa mai phục và chiến thắng quân xâm lược Nam Hán.

Di tích Từ Lương Xâm vẫn còn vết tích của đường vành kiệu thuở ấy. Một trong những điều làm nên giá trị lịch sử của di tích quốc gia đặc biệt Từ Lương Xâm là nơi đây lưu giữ các hiện vật xuyên suốt thời kỳ dài hào hùng dựng nước và giữ nước của dân tộc, bao gồm: 125 hiện vật, cổ vật và 25 đạo sắc phong niên đại từ năm 1522 đến 1924 của các triều đại Lê sơ, Mạc, Lê trung hưng, Tây Sơn, Nguyễn.
Tại vùng đất An Dương cổ có 4 di tích thờ Đức Vương Ngô Quyền nên được gọi là "Tứ linh từ", trong đó, Từ Lương Xâm được suy tôn là "Từ cả".

Trường tồn cùng lịch sử, lễ hội truyền thống Từ Lương Xâm hằng năm được tổ chức từ ngày 16 đến 18 tháng giêng, kỷ niệm chiến thắng Bạch Đằng và ngày mất của Đức Vương Ngô Quyền. Lễ hội chứa đựng nhiều tập quán tín ngưỡng dân gian của nhân dân địa phương qua nhiều thế hệ.
Trong lễ hội Từ Lương Xâm, nổi bật nhất là lễ rước. Song hành cùng các đoàn rước kiệu đều có linh vật "rồng chầu, phượng múa" cùng dàn bát âm đi theo. Rước kiệu cũng là nét đặc biệt của lễ hội khi phần lớn kiệu trước khi vào đền đều là "kiệu bay" trên những đôi chân thoăn thoắt của thanh niên trai tráng trong vùng. Nét độc đáo của lễ rước còn có cả màn rước cọc Bạch Bằng, chiến thuyền và ngựa chiến - thể hiện sự tri ân về chiến thắng Bạch Đằng thuở trước.

Trong lễ hội còn có nhiều tiết mục văn nghệ, biểu diễn ca múa nhạc dân tộc tái hiện chiến thắng Bạch Đằng. Các trò chơi dân gian như: bịt mắt đập niêu, bịt mắt bắt dê, đu xuân, cờ tướng, cờ người, tổ chức giải bóng đá, bóng chuyền… thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham dự.
Với giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và kiến trúc, Từ Lương Xâm đã được ghi nhận qua nhiều dấu mốc quan trọng. Năm 1986, di tích được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia. Năm 2022, Lễ hội truyền thống Từ Lương Xâm được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Ngày 17/1/2025, Thủ tướng Chính phủ có quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt Cụm Di tích Từ Lương Xâm - Căn cứ bản doanh của Đức Vương Ngô Quyền năm 938, khẳng định vị thế và giá trị tiêu biểu trong hệ thống di sản văn hóa - lịch sử của dân tộc.
Năm 938, Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân nước Việt đánh tan quân Nam Hán trong trận chiến trên sông Bạch Đằng lịch sử, chấm dứt hơn 1.000 năm Bắc thuộc, mở ra một kỷ nguyên độc lập, tự chủ lâu dài của dân tộc. Với công lao to lớn của ông, nhiều triều đại đã ban sắc phong suy tôn Ngô Quyền là: Thượng đẳng tối linh Đại Vương, Ngô Vương Thiên Tử, vị Tổ Trung Hưng của dân tộc...

Ngô Quyền sinh năm 898 tại làng Mông Phụ, Đường Lâm, trong một gia đình hào trưởng có truyền thống yêu nước. Từ sớm, ông đã bộc lộ tư chất mưu lược, võ nghệ hơn người và tầm nhìn chính trị sắc sảo. Ông nối chí cha, tập hợp lực lượng và trở thành một hào trưởng hùng mạnh trong vùng. Năm 931, ông được Dương Đình Nghệ cử làm tướng tiên phong đánh đuổi giặc Nam Hán, chiếm thành Đại La và cai quản vùng đất Ái Châu.
Bối cảnh lịch sử khi ấy đầy biến động. Nội bộ đất nước xuất hiện phản thần Kiều Công Tiễn, cầu viện nhà Nam Hán, đe dọa nền tự chủ non trẻ. Trước nguy cơ ngoại xâm, Ngô Quyền đã thể hiện bản lĩnh của một nhà lãnh đạo kiệt xuất: Nhanh chóng trừ nội phản, thống nhất lực lượng, đồng thời xây dựng một chiến lược quân sự táo bạo, chưa từng có trong lịch sử chiến tranh khu vực.
Ông lựa chọn sông Bạch Đằng làm nơi quyết chiến, dựa vào quy luật thủy triều để biến dòng sông thành “bẫy thép” tiêu diệt kẻ thù. Hàng nghìn cọc gỗ lớn được bịt sắt, đóng ngầm dưới lòng sông. Khi triều lên, Ngô Quyền nhử quân Nam Hán tiến sâu vào trận địa. Đến lúc nước rút, thuyền giặc mắc cạn, đội hình rối loạn, bị cọc gỗ đâm thủng và hứng chịu đòn phản công quyết liệt của quân dân ta.
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 không chỉ là một thắng lợi quân sự, mà còn là bước ngoặt lịch sử: Chấm dứt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, khẳng định nền độc lập lâu dài của dân tộc. Từ đây, đất nước bước vào thời kỳ tự chủ, đặt nền móng cho các triều đại độc lập về sau.
Trải qua hơn một nghìn năm, chiến công của Đức Vương Ngô Quyền vẫn còn vang vọng trong từng nhịp sóng Bạch Đằng. Khu di tích hôm nay không chỉ là nơi lưu giữ ký ức lịch sử mà còn là không gian giáo dục truyền thống, hun đúc lý tưởng sống cho thế hệ trẻ mai sau.
THU HƯƠNG