Truyện ngắn 'Ngày mai lại đỏ lửa' của Tăng Hoàng Phi là câu chuyện cảm động về hành trình 'cho đi' và 'nhận lại' của một gia đình nhiều năm gắn bó với bếp ăn thiện nguyện.

Hồi còn nhỏ mẹ tôi hay nói, cái bếp trước sân không phải của nhà mình. Tôi thấy lạ ghê, đồ mẹ tôi nấu ăn hàng ngày sao lại không phải của nhà mình? Hỏi mẹ thì mẹ chỉ cười. Lớn hơn một chút, tôi bắt đầu để ý. Bữa cơm nhà tôi hay thiếu đi những phần ngon nhất. Nồi cá kho hôm nào mẹ cũng để dành khúc giữa béo nhất cho hộp cơm từ thiện, còn ba chị em tôi thì ăn khúc đuôi hoặc đầu. Phần canh bí mẹ nêm nếm kỹ lưỡng từng chút một, nếm đi nếm lại, rồi múc ra hộp, cuối cùng phần còn lại trong nồi mới là của cả nhà. Có bận tôi thấy mẹ ngồi thổi nguội từng hộp cơm một trước khi đậy nắp, cẩn thận vô cùng. Tôi không hờn giận mẹ, chỉ là thấy lạ. Mãi sau này lớn lên tôi mới hiểu cái cách mẹ nói ẩn dụ cho bếp ăn thiện nguyện, dành tặng những suất cơm yêu thương cho người bệnh của nhà tôi.
Bếp ăn thiện nguyện nhà tôi có từ đời bà ngoại, truyền qua tay mẹ, rồi đến lượt tôi tiếp quản. Chúng tôi nấu cơm từ thiện cho bệnh nhân ung thư máu ở khoa Huyết học, tầng năm của bệnh viện, mỗi ngày một lần vào buổi trưa.
*
Hồi cha tôi bị bệnh, tôi mới chỉ là đứa trẻ cấp hai. Cứ sáng đi học, chiều tôi lại vào viện với cha. Hành lang tầng năm hồi đó thật dài và lạnh lẽo, lúc nào tôi cũng ngửi thấy mùi thuốc sát khuẩn. Cha nằm trong phòng, người gầy rộc, xanh xao. Tôi ngồi trên chiếc ghế nhựa làm bài tập, thi thoảng lại ngó nhìn ba, hờ khi cha cần nhờ gì thì phụ giúp. Có một bữa, cô phụ trách bếp ăn từ thiện gõ cửa phòng cha, hỏi gia đình có cần suất cơm không. Mẹ tôi lắc đầu, nói cảm ơn cô, nhà còn lo được, phần đó để dành người khó khăn hơn. Cô ấy gật đầu, quay ra, nhưng trước khi đi thì để lại một hộp chè đậu xanh nói “cho cháu nhỏ ăn chơi”. Tôi nhớ mãi hộp chè đó đến tận bây giờ - mùi gừng thơm nhẹ, ngọt vừa, ấm trong lòng bàn tay giữa thời tiết se lạnh.
Năm tôi lớp mười một, mẹ bắt đầu nấu cơm từ thiện. Và cho đến khi tôi tốt nghiệp đại học, tôi thay mẹ tiếp quản bếp. Mẹ vẫn phụ giúp công việc bếp với tôi. Cả hai mẹ con đều đặn, năm giờ dậy vo gạo, sáu giờ nhóm lửa, chín giờ bắt đầu chia hộp, mười một giờ chở vào viện.
Hành lang tầng năm có những khuôn mặt tôi nhớ nằm lòng, dù chỉ một lần biết tên. Tôi nhớ chú Hải ở ngoại ô lên chữa bệnh một mình, con cái chú ai cũng ở xa, lại bận mưu sinh nên không đi cùng được. Ngày nào chú cũng ra lấy cơm sớm nhất, chú mỉm cười nói “cảm ơn con” rồi quay vào phòng. Chú ít nói lắm, nhưng lần nào tôi để thêm cái đùi gà chú cũng biết, gật đầu cảm ơn rõ thiệt tình. Chị Linh, hơn ba mươi tuổi, nuôi con nhỏ một mình, chồng bỏ đi từ hồi chị phát bệnh. Con chị gửi bà ngoại dưới quê. Chị hay xin thêm suất cơm để dành tối ăn vì ngại ra ngoài. Tôi luôn chuẩn bị sẵn cho chị hai hộp. Còn bà Năm tóc bạc trắng, con cháu đông nhưng đi viện một mình vì bà không muốn phiền hà ai. Mỗi người một mảnh đời, tôi ít khi hỏi sâu, sợ chạm vào nỗi niềm của họ làm họ thêm buồn. Tôi chỉ biết động viên, mọi người cố gắng để còn chiến đấu với bệnh tật.
Trong vô số người tôi đặc biệt để ý chị Thanh. Cũng không hẳn chị có ngoại hình gì đặc biệt nhưng chị hay xuống muộn. Thường mọi người lấy cơm hết chị mới xuống lấy. Mái tóc chị rụng gần hết sau những đợt hóa trị, chỉ còn chiếc mũ len màu xanh lá đội trên đầu, mùa nào cũng vậy. Chị quê miền Trung, vào đây cũng gần năm tháng. Con gái lớn theo chăm được hai tháng đầu rồi phải về lo cho mấy đứa nhỏ ở quê. Từ đó chị thui thủi một mình. Có lần đứng lấy cơm, mắt chị đỏ hoe. Tôi hỏi thăm, chị cười gượng bảo vừa gọi video về nhà, thấy cháu lớn thêm mà mình thì không có ở đó. Tôi không biết nói gì, chỉ lặng lẽ để thêm vào hộp chị miếng đậu phụ non chị thích. Chị cầm hộp cơm, nhìn tôi một lúc rồi bảo: “Em nấu ăn ngon lắm. Nhiều bữa ăn cơm em nấu, chị thấy đỡ nhớ nhà hơn”.
*
Có một hôm tôi đợi mãi mà không thấy chị Thanh tới lấy cơm như mọi lần. Như một thói quen, tôi không hề vội vã vì biết chị hay ra muộn. Dọn gần xong xuôi, tôi vẫn cẩn thận để riêng phần cơm của chị sang một bên: bên trong có sẵn miếng đậu phụ non mà chị thích. Đứng thêm một lúc lâu, tôi đưa mắt dõi dọc hành lang dằng dặc, nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng dáng chiếc mũ len màu xanh lá quen thuộc đâu cả. Tôi gửi hộp cơm nhờ cô hộ lý chuyển giúp vào phòng.
Sáng hôm sau tôi lại đến phát cơm cho mọi người. Chờ mãi vẫn không thấy chị Thanh tới lấy hỏi thăm mới hay cô hộ lý khẽ lắc đầu. Tôi biết có điều không hay, đứng đó thêm một khoảnh khắc, rồi bước lại phía cửa phòng chị. Cánh cửa hé mở. Chiếc giường đã được dọn gọn, tấm ga trắng phẳng phiu như chưa từng có ai nằm. Trên đầu giường, chiếc mũ len màu xanh lá được gấp ngay ngắn, đặt một mình giữa khoảng trống. Tôi đứng nhìn từ ngưỡng cửa, tim nhói lên tức nghẹn ngào.
Xuống tới bãi đỗ xe, tôi lại đứng lặng thêm một khoảnh khắc bắt đầu nghĩ ngợi. Hộp cơm tôi gửi hôm qua, không biết chị Thanh có kịp ăn thêm một miếng nào không? Tay tôi vẫn còn nhớ cái cảm giác xếp miếng đậu phụ vào góc hộp, cẩn thận để khỏi nát. Vậy mà giờ tôi ngồi đây, hộp cơm đã hết, người nhận đã đi, còn tay tôi vẫn cứ nhớ. Tôi không biết gọi cảm giác đó là gì. Cái hụt hẫng của một thói quen bỗng dưng không còn chỗ để đặt vào đâu nữa. Nước mắt không dưng tuôn ra, òa khóc nức nở.
Tối hôm đó, thấy mắt tôi sưng húp, mẹ lặng lẽ ngồi xuống bên cạnh, vỗ về rồi đưa cho tôi một ly nước ấm. Một lúc lâu sau, mẹ mới cất giọng nhỏ nhẹ: “Hồi mẹ mới bắt đầu nấu, bà ngoại có dặn một câu: Con nấu cho người ta ăn thì đừng bao giờ nghĩ mình đang cho đi. Thực ra mình nhận lại nhiều hơn thế, chỉ là không phải lúc nào cũng nhìn thấy được bằng mắt đâu con".
Tôi im lặng, bởi có những điều mẹ không cần giải thích bằng lời thì lòng tôi đã tự thấu thị. Những người ghé qua gian bếp này, từ chị Thanh đến chú Hải, bà Năm... họ không chỉ mang cơm đi. Họ để lại đây một niềm tin, một chút tình người sưởi ấm căn bếp cũ. Chính thứ “gia vị” không tên ấy đã tiếp sức cho mẹ trong những buổi sớm tinh sương, và bồi đắp cho tôi một tâm hồn biết thấu cảm. Tôi chưa bao giờ coi đây là một công việc để mưu sinh, mà là một hành trình học cách yêu thương - một cái “nghề” của trái tim mà tôi chẳng nỡ rời bỏ.
Sáng nay, tôi dậy sớm để đón lấy cái tĩnh lặng của gian bếp. Hơi nóng từ những phần cơm vừa chia xong tỏa ra, mờ ảo như một dải lụa sương. Đứng giữa làn hơi ấm sực ấy, ký ức về mẹ lại ùa về: cái cách mẹ cẩn trọng thổi nguội từng hạt gạo cho người ta ăn khỏi bỏng. Ngày bé tôi cứ thắc mắc sao mẹ phải khổ công đến thế, giờ cầm chiếc vá trên tay, tôi mới thấu hết lòng người. Cái bếp trước sân nhỏ bé này hóa ra lại rộng lớn vô cùng, bởi căn bếp ấy chưa bao giờ chỉ giữ lại hơi ấm cho riêng người nhà mình.
Lên đến tầng năm, tôi đứng lại đúng vị trí quen thuộc ấy. Chú Hải là người đến sớm nhất, tôi lặng lẽ gắp thêm vào hộp cơm của chú một miếng đùi gà vàng ruộm. Chú gật đầu, nụ cười hiền lành. Bà Năm vừa lần tràng hạt vừa tiến lại gần, tôi chọn cho bà một phần cơm đầy đặn nhất. Rồi chị Linh xuất hiện. Tôi trao hai hộp cơm như mọi khi. Chị nhìn tôi, ánh mắt của người đã đi qua đủ giông bão để hiểu mà không cần hỏi, rồi khẽ bóp chặt lấy tay tôi một cái trước khi quay bước.
Trong khoảnh khắc đó, tôi chợt nhận ra mình không còn là đứa nhỏ ngồi trên chiếc ghế nhựa, vừa làm bài tập vừa mong chờ một bờ vai để tựa vào. Tôi đang đứng đây, vững chãi, và hóa ra cũng đang có những người cần tựa vào mình. Có lẽ đó là điều bà ngoại muốn gửi gắm: thứ mình nhận lại không hiện hình bằng vật chất, mà là cảm giác thấy lòng mình bỗng dưng lộng gió và đôi chân mình bỗng chốc vững vàng đến lạ. Tôi đứng lặng cho đến khi hành lang không còn bóng người qua lại. Nhìn qua ô cửa kính phía cuối hành lang, nắng đã bắt đầu nhảy múa rực rỡ trên những tán lá. Ngày mai, gian bếp nhà tôi sẽ lại đỏ lửa, và tôi sẽ lại tiếp tục hành trình gom nhặt những điều không tên nhưng đủ sức sưởi ấm cả một đời người...
Truyện ngắn của TĂNG HOÀNG PHI