Truyện ngắn 'Tiếng chuông' của Lê Ngọc Sơn là lời tri ân sâu sắc dành cho người phụ nữ vừa hết lòng với công việc, vừa tận tụy chăm lo gia đình.

Trong ký ức tôi, tuổi thơ không được đo bằng năm bằng tháng, mà được đo bằng những lần tiếng chuông điện thoại để bàn vang lên giữa đêm.
Tiếng chuông ấy như một sợi chỉ vô hình, kéo suốt dọc tuổi thơ tôi, tuổi thiếu niên của tôi, rồi cả những năm tháng trưởng thành của tôi. Tiếng chuông không chỉ đánh thức giấc ngủ của mẹ tôi, mà còn đánh thức trong tôi một nỗi lo lắng mơ hồ, một cảm giác bất an mà mãi sau này tôi mới gọi đúng tên: Nỗi sợ không còn gặp mẹ.
Mỗi lần chuông reo là một lần bữa cơm bị bỏ dở. Câu chuyện gia đình đang rôm rả bỗng khựng lại. Mẹ đặt bát xuống, đứng dậy, lặng lẽ đi vào buồng trong thay áo. Không ai bảo ai, cả nhà đều im lặng. Chúng tôi quen với điều đó ấy đến mức, chỉ cần nghe chuông vang lên đã tự động hiểu: Mẹ lại phải đến bệnh viện.
Tôi thương mẹ tôi những năm tháng cơ cực, lặn lội sớm hôm để nuôi hai anh em tôi khôn lớn. Tôi thương những chiều mẹ vừa tan làm trở về, mùi thuốc sát trùng còn vương nơi tay áo, còn chưa kịp ngồi xuống thở ra một hơi đã phải nhấc máy. Đầu dây bên kia giục gấp: “Có ca cấp cứu, chị đến ngay nhé”. Mẹ “vâng” rất khẽ. Đặt máy xuống. Bưng bát cơm ăn vội vài miếng. Rồi dắt xe đi. Vẫn nguyên bộ quần áo cũ.
Có những đêm mùa Đông lạnh cắt da. Ngoài hiên, mưa rả rích, gió lùa qua khe cửa. Cả nhà đang ngủ, tiếng chuông điện thoại bỗng xé toạc màn đêm. Mẹ bật dậy, khoác thêm chiếc áo bông dày, trùm chiếc áo mưa bên ngoài, lặng lẽ dắt xe ra ngõ. Bóng mẹ gầy gầy, nhỏ dần trong khoảng tối. Tôi nằm trong chăn, mở mắt nhìn trần nhà rất lâu, không sao ngủ lại được. Mỗi lần như thế, tôi chỉ biết nằm nghe tim mình đập thình thịch, nghe từng tiếng gió thổi ngoài sân, mong trời mau sáng, mong mẹ về an toàn.
Những ca mổ cấp cứu đâu chờ ai. Sinh tử đôi khi chỉ cách nhau trong tích tắc. Mẹ tôi hiểu điều ấy, nên chưa bao giờ tôi thấy mẹ than vãn vì những lần nghe điện thoại và đi giữa đêm.
Mỗi ca trực ấy, mẹ nhận được phụ cấp mấy chục nghìn đồng, số tiền ít ỏi so với công sức bỏ ra. Nhưng mẹ vẫn nhận trực. Bởi phía sau lưng mẹ là hai con đang lớn, là những cuốn vở mới mỗi năm học, là giấc mơ rất giản dị: cho hai con được học hành đến nơi đến chốn.
Ngày ấy, mẹ không biết đi xe máy. Bao năm chỉ quen với chiếc xe đạp cọc cạch. Nhưng thương bố phải đưa đón mỗi khi mẹ trực khuya, mưa gió, mẹ tự tập đi xe. Con đường quốc lộ qua thị trấn lúc nào cũng đầy xe tải, xe container rầm rập chạy qua. Có những lần tay lái run lên khi chiếc xe to lướt sát bên, nhưng rồi mẹ lại bặm môi, nắm chặt ghi đông. Chỉ cần nghĩ đến ca mổ đang chờ, mẹ lại tiếp tục đi.
Quãng đường từ nhà tới bệnh viện chỉ hơn năm cây số. Nhưng với mẹ, đó không chỉ là quãng đường đo bằng ki-lô-mét. Đó là quãng đường của lòng can đảm, của tình thương. Hơn mười năm trời, mẹ chỉ dám đi đi về về đúng quãng đường ấy với tốc độ chậm chạp. Đi nơi khác, mẹ lại đạp xe, hoặc nhờ bố chở.
Mãi đến khi tôi tốt nghiệp đại học, có công ăn việc làm, mẹ mới nói một câu rất khẽ: “Bệnh viện bố trí thêm người trực cùng mẹ rồi”. Tôi hiểu, sau hơn mười năm gồng gánh, mẹ mới chịu bớt việc, khi con đã đủ lớn để mẹ yên tâm.
*
Mẹ học hết phổ thông rồi nhập ngũ vào những năm đầu thập niên tám mươi. Đơn vị của mẹ được cử sang Lào giúp bạn làm đường. Sau khóa đào tạo y tá sơ cấp sáu tháng, mẹ làm ở ban Quân y. Mẹ kể về những năm tháng ấy bằng giọng đều đều, nhưng tôi nghe vẫn thấy rợn ngợp: đói, sốt rét rừng, thiếu gạo, thiếu thuốc, thiếu cả muối. Ai cũng vàng da, gầy rộc. Có những đêm, mẹ phải thức trắng để trông đồng đội lên cơn sốt rét co giật.
Bà con người Lào ở vùng núi xa xôi thương bộ đội Việt Nam lắm, nhưng họ nghèo, không có gì hỗ trợ nhiều. Có hôm, mẹ cùng đồng đội mang muối vào bản đổi lấy con gà, bó rau cải thiện bữa ăn. Mẹ bảo, hạt muối ngày ấy quý đến mức cầm trong tay cũng phải dè sẻn.
Hai năm sau, mẹ xuất ngũ, mang theo chứng chỉ y tá sơ cấp. Quê mẹ ở một vùng quê thuần nông nghèo khó. Khi được phòng tổ chức hỏi muốn được phân công công tác ở đâu, mẹ chỉ nói giản dị: “Ở đâu gần nhà, nơi nào đang thiếu người là được”. Nhưng tờ giấy phân công sau đó lại ghi tên huyện miền núi Như Xuân, cách nhà hơn sáu chục cây số đường đèo dốc. Bác tôi đạp xe chở mẹ lên trên đó nhận công tác.
Chính nơi miền núi xa xôi ấy, mẹ gặp bố tôi, một thầy giáo thể dục trẻ dạy ở trường cấp ba huyện. Hai người yêu nhau, rồi cưới nhau. Hai anh em tôi, một cặp sinh đôi, ra đời giữa những năm tháng bao cấp thiếu thốn đủ bề.
Sau này bố được chuyển công tác về xuôi trước. Mẹ ở lại miền núi.
*
Tuổi thơ tôi là những ngày dài nhớ mẹ. Là những chiều đứng bên hiên, nhìn con đường trước nhà, mong có một chuyến xe nào đó dừng lại và mẹ bước xuống. Nhưng phần lớn những chờ đợi ấy đều kết thúc bằng sự hụt hẫng.
Mỗi tháng mẹ xin nghỉ phép dăm ngày về với hai con. Ngày mẹ đi, tôi chỉ đứng nép sau cánh cửa, lén quẹt nước mắt. Để có thêm ngày phép, mẹ phải trực thêm ca đêm. Mùa Đông, mẹ mang về cho hai đứa những chiếc áo len mẹ đan trong bao đêm nhớ con. Sợi len thô, màu sắc không đẹp, nhưng mặc vào là ấm áp như khi được ngồi trong lòng mẹ. Có những ngày nắng hiếm hoi giữa mùa Đông, mẹ đun nước, gọi hai đứa ra sân giếng tắm gội. Mẹ về, chúng tôi sạch sẽ thơm tho. Mẹ đi, hai đứa lại lấm lem như cũ.
Mãi đến năm tôi học lớp bốn, mẹ mới xin được chuyển về xuôi. Tôi còn nhớ rất rõ một hôm, trong bữa cơm chiều, trong bát của hai anh em tôi đều có một con tôm sú đỏ au rất to. Lần đầu tiên tôi thấy con tôm to đến thế.
*
Mẹ về xuôi, gia đình mới thực sự đoàn tụ. Mẹ mang theo về chiếc xe đạp cũ. Hai anh em thay phiên đèo nhau đi học. Có lần xe non hơi, đi vào đường gồ ghề thì xóc nảy, hai đứa lại thích thú đạp mãi. Về tới nhà mới biết thủng cả hai chiếc săm. Mẹ không mắng, chỉ thở dài.
Mẹ về, bữa cơm gia đình đủ đầy hơn. Áo quần hai anh em gọn gàng hơn. Tuổi thơ cũng bớt gập ghềnh hơn. Nhưng cuộc sống vẫn chưa thôi vất vả.
Những năm đầu, mẹ chưa được làm đúng chuyên môn, phải làm ở phòng bảo hiểm, nhập số liệu, cộng sổ. Thời gian đầu, mẹ phải mang sổ sách về nhà làm thêm. Tôi thường thấy mẹ cặm cụi bên bàn, dưới ánh đèn vàng vọt, những con số dài ngoằng chạy qua đôi mắt đã bắt đầu mỏi.
Một ngày nọ, nhà tôi lắp điện thoại để bàn. Hồi ấy, điện thoại bàn là thứ xa xỉ ở thị trấn nghèo quê tôi. Tôi từng thầm trách bố mẹ sao lại “xài sang” khi còn phải chắt chiu nuôi con ăn học. Mãi sau này tôi mới hiểu: chiếc điện thoại ấy là để bệnh viện gọi mẹ khi có ca cấp cứu.
Khi mẹ được chuyển về đúng chuyên môn, y tá phòng mổ khoa ngoại, mẹ xin trực ca. Công việc ấy đồng nghĩa với việc: bất kể ngày đêm, mưa nắng, lễ Tết, chỉ cần bệnh viện có ca mổ cấp cứu, là mẹ phải lên đường. Chuẩn bị dụng cụ, đứng kíp mổ, đưa dụng cụ cho bác sĩ, dọn dẹp, tiệt trùng… Công việc lặng lẽ, bền bỉ, ít ai biết tới.
Những năm tôi học phổ thông rồi năm năm đại học, chừng đó năm ấy, mẹ gần như sống cùng tiếng chuông điện thoại. Ngôi nhà nhỏ của gia đình tôi dần dần được cơi nới thêm gian bếp, thêm phòng nhỏ, chồng thêm tầng. Đó là kết quả của sự chắt chiu, tằn tiện, của những đêm mẹ đội mưa đi trực, của những bữa cơm bị bỏ dở.
Liên quan đến tiếng chuông điện thoại, tôi còn nhớ mãi một ký ức. Đó là một đêm mưa rất to. Mẹ vừa về sau ca mổ kéo dài, ăn uống nghỉ được hơn hai tiếng thì đúng nửa đêm, chuông điện thoại lại vang lên. Tôi ra mở cửa, dắt xe cho mẹ. Mẹ mặc bộ áo mưa xanh đậm, loại áo quần rời phổ biến thời ấy. Hai mẹ con nhìn nhau rất nhanh. Không ai nói gì. Mẹ nổ máy, chậm rãi đi vào màn mưa dày đặc. Ánh đèn xe yếu ớt, bóng mẹ nhỏ dần trên con đường tối.
Tôi đứng rất lâu ở cửa, dù mẹ đã khuất hẳn. Trong lòng tôi dâng lên một nỗi sợ mơ hồ, nỗi sợ mà càng lớn lên, tôi càng không dám gọi tên.
Một ngày mẹ đi mấy lượt. Một năm là bao nhiêu lượt. Và suốt bao năm như thế.
Tôi không thể làm gì hơn, ngoài việc học thật giỏi, mong một ngày nào đó có thể đỡ đần cho mẹ.
*
Mẹ nghỉ hưu khi tôi đã lập gia đình được vài năm. Hôm bệnh viện tổ chức chia tay, cả gia đình tôi được mời tới. Lần đầu tiên tôi được gặp đầy đủ ban giám đốc, bác sĩ, điều dưỡng trong khoa. Những cái bắt tay, những lời nói chân thành, những ánh mắt trân trọng họ dành cho mẹ khiến tôi lặng người. Tôi hiểu: Mẹ không chỉ sống trọn với gia đình, mà còn sống trọn với nghề.
Giờ tôi đã có con. Tôi hiểu sâu hơn câu mẹ từng nói: “Con cứ có con rồi sẽ biết. Con thương con của con thế nào, thì mẹ cũng thương các con như thế".
Khi đã làm cha, tôi mới phần nào hiểu được tình thương vô điều kiện ấy. Một đời mẹ lặng lẽ hy sinh, không mong báo đáp.
Giờ đây, mỗi đêm khuya, đôi khi giữa căn nhà yên tĩnh, tôi vẫn giật mình khi nghe một tiếng chuông điện thoại vang lên đâu đó. Tiếng chuông ấy không còn gọi mẹ đi làm nữa. Nhưng vẫn ở lại trong tôi, như một vết khắc âm thầm của ký ức.
Ngoài kia, đêm vẫn lặng. Chiếc điện thoại nằm im. Nhưng trong tôi, tiếng chuông năm nào dường như chưa bao giờ dứt.