(HPĐT)- Tại phiên họp hồi cuối tháng 3 vừa qua, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Nghị quyết bổ sung một số trường hợp có thể cho hưởng án treo, mở thêm cơ hội sửa sai cho những người lầm lỡ.

Phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm tại TAND quận Ngô Quyền.
Án treo – chế định nhân văn
Với phương châm giáo dục kết hợp với khoan hồng, án treo là hình thức hình phạt hình sự không bắt buộc người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội một thời gian, mà tạo điều kiện cho họ được hòa nhập cùng cộng đồng. Người chịu hình phạt án treo vẫn được làm ăn, sinh sống và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường dưới sự giám sát, theo dõi, giáo dục của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Với đặc điểm đó, án treo là một chế định thể hiện tính nhân đạo trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta.
Theo quy định tại Điều 65, Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS năm 2015) quy định khi xử phạt tù không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 1 năm đến 5 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Những căn cứ để áp dụng án treo đối với người bị phạt tù là những yêu cầu, đòi hỏi bắt buộc do pháp luật hình sự quy định đối với người đó mà chỉ khi nào có đầy đủ những căn cứ thì Tòa án mới được áp dụng án treo đối với họ.
Khác với án phạt tù, người được Tòa án cho hưởng án treo phải chịu thử thách trong thời gian từ 1 năm đến 5 năm. Trường hợp người được hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú từ 1 ngày trở lên thì phải khai báo tạm vắng. Ba tháng một lần trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải nộp bản tự nhận xét về việc chấp hành pháp luật cho người trực tiếp giám sát, giáo dục; trường hợp đi khỏi nơi cư trú từ 3 tháng đến 6 tháng, thì phải có nhận xét của Công an cấp xã nơi người đó đến lưu trú hoặc tạm trú để trình với UBND cấp xã được giao giám sát, giáo dục người đó.
Nếu trong thời hạn này, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 65 Bộ luật Hình sự 2015.
Bảo đảm thống nhất với các luật có kiên quan
Để áp dụng thống nhất chế định án treo, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao ban hành Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo. Theo đó, ngoài điều kiện người phạm tội bị xử phạt tù không quá 3 năm, thì người được hưởng án treo phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Nhiều tình tiết giảm nhẹ được hướng dẫn là phải có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015. Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ 2 tình tiết trở lên trong đó có ít nhất 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015. Người phạm tội phải có nhân thân tốt, có nơi cú trú rõ ràng để các cơ quan có thẩm quyền giám sát, giáo dục thì mới có thể được xem xét để áp dụng án treo.
Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQHĐTP bổ sung một số trường hợp có thể cho hưởng án treo. Đó là các trường hợp: Đối với người bị kết án mà khi định tội đã sử dụng tình tiết “đã bị xử lý kỷ luật” hoặc “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” hoặc “đã bị kết án” và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo; người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn, có quyết định truy nã nhưng đã ra đầu thú trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử; người phạm tội bị xét xử cùng một lần về 2 tội, nhưng các tội phạm đã thực hiện đều là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội tham gia là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể.
Với việc bổ sung các trường hợp có thể cho hưởng án treo, Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP có ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ công lý, công bằng, mở ra thêm cơ hội cho những người không may lầm lỡ được hưởng chế định hình phạt nhân văn này. Việc bổ sung thêm các trường hợp được hưởng án treo với những quy định cụ thể, rõ ràng cũng góp phần giải quyết khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật đồng thời bảo đảm thống nhất với các đạo luật có liên quan./.
Như Vân (tổng hợp)