Chung sống như vợ chồng không được hưởng thừa kế của nhau

HƯƠNG PHAN 05/04/2022 19:07

(HPĐT)- Tranh chấp đất đai nói chung và tranh chấp tài sản thừa kế liên quan đến đất đai nói riêng ngày càng gia tăng và phức tạp, nguyên nhân tranh chấp đến từ những xung đột về lợi ích kinh tế, ảnh hưởng đến thời gian, chí phí và tình cảm của các bên. Câu chuyện hòa giải sau đây là một ví dụ:

Bà Nguyễn Thị H., sinh năm 1962, là con của ông Nguyễn T. Mẹ là bà H. mất từ khi bà còn nhỏ. Năm 1986, cha bà H làm hợp đồng chuyển nhượng cho bà 596 m2 đất, hợp đồng chuyển nhượng đất được UBND xã chứng thực. Sau khi được bố chuyển nhượng quyền sử dụng đất, vợ chồng bà H. xây dựng nhà, công trình kiên cố trên thửa đất đó từ năm 1986 đến nay.

Năm 1997, gia đình bà H. được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất với diện tích 596 m2. Cha bà H. là ông Nguyễn T. được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn T. gồm 2 thửa đất có tổng diện tích 977 m2. Năm 2003, ông Nguyễn T. qua đời, không để lại di chúc. Di sản thừa kế của ông Nguyễn T. sau khi qua đời là thửa đất mang tên ông, bà H. con ông T. là người thừa kế hợp pháp.

Trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến tháng 3 - 2003, ông Nguyễn T. ở với bà Nguyễn Thị C. và không có đăng ký kết hôn. Năm 2020, bà Nguyễn Thị C. khởi kiện bà H. yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của bà và ông Nguyễn T. là quyền sử dụng 977 m2 đất mang tên ông T. và 596 m2đất ông T. đã chuyển nhượng cho bà H. trước đó (thửa đất đã được UBND huyện công nhận quyền sử dụng đất năm 1997 mang tên chủ sử dụng đất là bà H.). Không muốn sự việc phải đưa ra tòa, bà H. có đơn yêu cầu tổ hòa giải giúp đỡ.

Quá trình tìm căn cứ để hòa giải, hòa giải viên tiến hành các bước xác minh thu thập chứng cứ tài liệu và nắm được thông tin: Bà Nguyễn Thị C. về chung sống với ông Nguyễn T. không có đăng ký kết hôn, sau đó, hòa giải viên còn tìm hiểu, thu thập được tài liệu, chứng cứ bà Nguyễn Thị C. có tài sản là quyền sử dụng 1.923 m2 đất, là tài sản có được năm 1999 (trong thời kỳ sống chung với ông Nguyễn T. Thời gian chung sống với ông T., bà C. chỉ ở nhà làm nội trợ).

Theo Điều 2 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLTTANDTC-VKSNDTC-BTP của TAND tối cao, Viện KSND tối cao, Bộ tư pháp năm 2001 quy địnhgiải quyết vấn đề ly hôn trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập sau ngày 3-1-1987. Cụ thể:

Đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3-1-1987 trở đi đến trước ngày 1-1-2001 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện kết hôn, nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ có nghĩa vụ đăng ký kết hôn kể từ ngày 1-1-2001 cho đến ngày 1-1-2003; do đó, cần phân biệt như sau:

b. Kể từ sau ngày 1-1-2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, họ không được công nhận là vợ chồng; nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và áp dụng điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, khoản 1 điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, bằng bản án tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng; nếu họ có yêu cầu về nuôi con và chia tài sản, thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết theo thủ tục chung.

Luật Hôn nhân và gia đình quy định việc đăng ký kết hôn mới làm phát sinh quan hệ hôn nhân. Như vậy, bà C. và ông T. không được pháp luật công nhận là vợ, chồng hợp pháp do chỉ chung sống như vợ, chồng với nhau từ năm 1997 mà không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn sau ngày 1-1-2003.

Đối với trường hợp chung sống như vợ, chồng nhưng không đăng ký kết hôn thì tài sản được giải quyết theo nguyên tắc: Tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thoả thuận của các bên; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự và theo nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi ích của phụ nữ và con.

Hòa giải viên đã gặp gỡ bà C., phân tích các quy định của pháp luật về các trường hợp không được công nhận là vợ chồng, không được chia di sản thừa kế. Bản thân bà C. trong thời kỳ sống chung với ông T. cũng sở hữu 1.923 m2 đất. Từ chỗ bà H. là bị đơn, bị yêu cầu chia tài sản thừa kế, bà H. có thể kiện ngược lại, đòi chia tài sản từ phía nguyên đơn là bà C. Về phía bà H., không muốn kiện tụng mất tình cảm, dù sao cũng có thời gian là người một nhà. Sau khi nghe hòa giải viên giảng giải có tình, có lý, bà C. đã rút đơn khởi kiện, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án./.

HƯƠNG PHAN
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Chung sống như vợ chồng không được hưởng thừa kế của nhau