Theo quy định tại Khoản 3 Điều 32 Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15-11-2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch: trường hợp một hoặc hai bên nam, nữ không thể có mặt để nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì theo đề nghị bằng văn bản của họ, Phòng Tư pháp gia hạn thời gian trao Giấy chứng nhận kết hôn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn. Hết 60 ngày mà hai bên nam, nữ không đến nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch UBND cấp huyện hủy Giấy chứng nhận kết hôn đã ký.
Khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là khoảng thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu; sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình.
Dịch bệnh COVID-19 là sự kiện khách quan, không thể lường trước được, hiện vẫn đang diễn biến phức tạp và chưa chấm dứt. Nhiều vùng, nhiều nơi vẫn thực hiện cách ly và các biện pháp y tế nghiêm ngặt khác, nên đề nghị Sở Tư pháp chỉ đạo phòng Tư pháp cấp huyện vận dụng quy định nêu trên báo cáo Chủ tịch UBND trong thời gian xảy ra dịch bệnh COVID-19 không tính vào thời gian gia hạn nhận Giấy chứng nhận kết hôn.
Nguyễn Nguyên