Hòa giải tranh chấp tài sản giữa chị chồng, em dâu

HƯƠNG PHAN 04/05/2023 16:22

Năm 2014, anh Văn kết hôn với chị Hoài và được cha ruột anh Văn là ông Nguyễn cho 176 m2 đất. Năm 2015, thửa đất trên được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ chồng anh Văn. Vợ chồng anh Văn xây một ngôi nhà cấp 4 với diện tích 70 m2 trên thửa đất đó. Năm 2017, vợ chồng anh Văn đi làm ăn xa, ít khi về nhà. Ông Nguyễn thấy chị Phúc (chị ruột của anh Văn) ly hôn chồng không có nhà ở nên bảo chị Phúc đến quản lý và sử dụng căn nhà của anh Văn. Năm 2022, anh Văn qua đời, chị Hoài cùng các con trở về quê sinh sống và định sửa chữa lại căn nhà của vợ chồng chị, nhưng chị Phúc cản trở, không cho sửa chữa nhà vì cho rằng nhà này do bố đẻ giao cho chị quản lý, sử dụng từ lâu, nay anh Văn đã chết nên chị Hoài không có quyền gì đối với căn nhà và đất này. Hai bên phát sinh tranh chấp. Chị Hoài có đơn gửi Tổ hòa giải giúp đỡ.

Sau khi tiếp nhận vụ việc, Tổ hòa giải phối hợp Tổ dân phố tiến hành tiếp xúc với các bên mâu thuẫn, tranh chấp để tìm hiểu nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn, kiểm tra nơi xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp và ghi nhận ý kiến của từng bên.

Chị Hoài cho biết, nhà, đất này vợ chồng anh chị được bố chồng cho và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp năm 2015, nên là tài sản của vợ, chồng chị. Do anh Văn đã chết, chị và các con được toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với nhà đất này, không ai có quyền ngăn cản.

Còn chị Phúc lại cho rằng, nhà, đất này là của cha ruột chị. Ông cho vợ, chồng Văn ở tạm một thời gian, sau đó vợ chồng anh Văn đi làm ăn xa, không ở nữa. Hơn nữa, chị là con ruột của ông Nguyễn nên chị được hưởng quyền thừa kế thửa đất này và có toàn quyền quản lý, sử dụng. Việc chị Hoài tiến hành sửa chữa nhà là không hợp pháp, nên chị mới cản trở không cho thực hiện.

Tại buổi hòa giải, sau khi nghe tóm tắt nội dung vụ việc, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp, nguyện vọng của các bên, Hòa giải viên phân tích để hai bên biết được quy định của Luật Đất đai năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vợ chồng anh Văn phải có sự đồng ý bằng văn bản của ông Nguyễn về tặng cho quyền sử dụng đất, trên cơ sở đó các cơ quan có thẩm quyền mới có căn cứ để cấp Giấy chứng nhận cho vợ chồng anh Văn. Như vậy, người có quyền sử dụng hợp pháp được Nhà nước công nhận đối với thửa đất này là vợ chồng anh Văn, chị Hoài chứ không phải chị Phúc.

Anh Văn chết không để lại di chúc, do đó, quyền thừa kế được chia theo pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất của anh Văn gồm có: chị Hoài và các con của anh chị (vì cha mẹ của anh Văn đã chết trước khi anh Văn chết); chị Phúc thuộc hàng thừa kế thứ hai. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Chị Hoài và các con của anh chị không thuộc diện những người không có quyền hưởng di sản hay bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Do đó, di sản của anh Văn sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, gồm chị Hoài và các con của anh chị.

Sau khi được tổ hòa giải phân tích quy định pháp luật và tình nghĩa chị em trong gia đình, chị Phúc nhận ra cái sai của mình. Chị cũng giải thích thêm rằng, do giận vợ chồng anh Văn đi xa làm ăn ít về thăm nom cha, mẹ, lại thương anh Văn mất sớm nên chị cũng chỉ giữ nhà đất này cho các cháu thôi. Tại buổi hòa giải, chị Phúc nhận lỗi và mong em dâu bỏ qua, hàn gắn tình cảm chị em, tình cảm gia đình. Chị thống nhất để chị Hoài sửa chữa lại căn nhà, mong muốn được tiếp tục sống chung trên mảnh đất này vì chị cũng không có nơi cư trú nào khác.

Qua phân tích, động viên của tổ hòa giải và ý kiến nhận lỗi của chị Phúc, chị Hoài đồng ý chấp nhận bỏ qua và hàn gắn tình cảm chị em, đồng ý để chị Phúc sống chung trong nhà đến cuối đời./.

HƯƠNG PHAN
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Hòa giải tranh chấp tài sản giữa chị chồng, em dâu