Hỏi - đáp pháp luật hôn nhân và gia đình, phòng chống bạo lực gia đình và bình đẳng giới

10/12/2021 09:54

Câu 1. Sau 3 năm đi làm, tôi tiết kiệm được 500 triệu đồng. Số tiền này, tôi góp vốn kinh doanh với một người bạn và bình quân mỗi tháng, lợi nhuận được khoảng 10 triệu đồng. Sắp tới, tôi dự định kết hôn nên muốn hỏi, việc định đoạt tài sản riêng của vợ chồng được pháp luật quy định như thế nào?

- Theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng.

Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung vợ chồng (theo quy định tại khoản 1 Điều 33).

Căn cứ vào quy định trên của pháp luật thì số tiền 500 triệu đồng bạn tích lũy được trước khi kết hôn nên được coi là tài sản riêng của bạn.

Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng được quy định tại Điều 44 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

“1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.

3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

4. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.”

Câu 2. Chị A sắp 21 tuổi, đang ở nhà phụ giúp bố mẹ làm vườn. Qua mai mối, bố mẹ của chị A muốn chị A kết hôn với một người Đài Loan và tìm nhiều cách thuyết phục A với hy vọng để có thể cải thiện kinh tế gia đình. Chị A không đồng ý, kiên quyết phản đối. Vậy, việc làm của bố mẹ chị A có vi phạm pháp luật không?

- Theo Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì nam, nữ kết hôn phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, gồm:

- Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

- Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Điểm b khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn. Việc bố mẹA muốn A kết hôn với một người Đài Loan là vi phạm pháp luật.

Câu 3. Chồng tôi mở cửa hàng kinh doanh nên tôi muốn thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng để nếu anh làm ăn có vấn đề gì không thuận lợi cũng không ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của vợ con. Tôi xin hỏi, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng phải có những nội dung gì?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản gồm:

a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;

b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;

c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;

d) Nội dung khác có liên quan. Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định.

Câu 4. Bố của K không cho K kết hôn với T vì cho rằng ông nội của K và bà ngoại của T là anh em con chú con bác nên K không thể kết hôn với T. Gia đình K phát sinh mâu thuẫn. Đề nghị cho biết cơ sở pháp lý quy định về vấn đề này?

- Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định nam, nữ kết hôn phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, gồm:

- Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

- Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

“Những người cùng dòng máu về trực hệ là cha, mẹ đối với con; ông, bà đối với cháu nội và cháu ngoại” (khoản 12 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014);

“Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ ba” (khoản 13 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014).

Căn cứ quy định trên, K và T không thuộc trường hợp cấm kết hôn. Như vậy, K và T có quyền kết hôn với nhau. Mọi hành vi cản trở việc kết hôn giữa K và T với lý do vì 2 người có quan hệ họ hàng là vi phạm pháp luật.

* Xử lý vi phạm: Khoản 3 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định:

“Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình”.

Do đó, nếu bố của K cố tình cản trở hôn nhân của K và H thì ông có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Câu 5. Xin hỏi, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu trong trường hợp nào?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2017 thì thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan;

- Vi phạm một trong các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình.

Câu 6. Gia đình chồng chị V theo một tôn giáo, sau khi kết hôn, chồng và gia đình chồng chị V ép chị phải theo tôn giáo này. Chị V không đồng ý và mâu thuẫn gia đình phát sinh. Xin hỏi pháp luật quy định vấn đề này như thế nào?

- Chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta luôn coi trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi công dân. Điều đó được thể hiện trong các Hiến pháp và được cụ thể hóa trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ chồng, được quy định tại Điều 22 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: “Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau”.

Như vậy, theo quy định này, chị V có quyền tự do quyết định theo hoặc không theo dòng tu của nhà chồng. Việc chồng và gia đình chồng chị V ép chị V phải theo tôn giáo của họ là trái với quy định của pháp luật.

Trong trường hợp này chị V có thể giải thích, thuyết phục với chồng và gia đình chồng để họ hiểu và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mình. Nếu như chị V không tự thuyết phục được thì nên nhờ sự giúp đỡ của những người có uy tín trong cộng đồng, chính quyền, đoàn thể nơi chị V đang sinh sống để thuyết phục, giải thích cho chồng và gia đình chồng chị V tôn trọng quyền tự do tôn giáo của chị V.

Câu 7. Chị P hiện đang mang thai con thứ hai được 6 tháng. Tuy nhiên giữa hai vợ chồng P phát sinh nhiều mâu thuẫn, việc tiếp tục chung sống không mang lại hạnh phúc. Xin hỏi, chị P có thể ly hôn trong điều kiện hiện tại không?

- Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:

- Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

- Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

- Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Như vậy, pháp luật chỉ quy định người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ có thai. Người vợ có quyền ly hôn chồng bất cứ thời điểm nào nếu tình trạng hôn nhân trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Câu 8. Trước khi kết hôn anh T mua được 1 căn hộ tập thể. Sau khi kết hôn với chị N (làm việc tại một doanh nghiệp nước ngoài), anh chị về sống cùng bố mẹ chồng. Căn hộ tập thể cho gia đình người em họ thuê với giá 3 triệu đồng/tháng (chị N cầm khoản tiền này và chi tiêu cá nhân). Nay, anh T muốn bán căn hộ tập thể đó cho người em họ với giá 700 triệu đồng. Thấy chồng bán nhà với giá rẻ hơn giá thị trường, chị N không đồng ý. Xin hỏi, anh T có thể bán căn hộ tập thể mà không có sự đồng ý của vợ?

Anh T có thể bán căn nhà tập thể ngay cả khi chị N không đồng ý. Tại khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn”.

Theo đó, anh T có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với căn nhà này. Tại khoản 4 Điều 44 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ”. Như vậy trong trường hợp này, do anh T và chị N có công ăn việc làm ổn định, thu nhập tương đối cao, có việc làm và việc cho thuê nhà chỉ để “chi tiêu cá nhân thêm” cho chị N, không phải là “nguồn sống duy nhất” của gia đình anh T - chị N, nên trong trường hợp này, anh T có quyền bán nhà mà không cần có ý kiến của chị N.

Câu 9. Anh M là giám đốc một công ty, sau khi kết hôn anh M yêu cầu vợ (chị H) ở nhà nội trợ, chăm sóc con nhỏ và bố mẹ chồng già yếu. Mẹ chồng chị H lại cho rằng chị H ăn bám chồng, tài sản trong nhà là của anh M. Mâu thuẫn mẹ chồng nàng dâu âm thầm diễn ra, khiến anh H đau đầu. Đề nghị cho biết, pháp luật quy định như thế nào về tài sản chung vợ chồng trong trường hợp của anh M và chị H?

- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: Công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập (Khoản 2 Điều 16). Đồng thời, khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.

Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định những tài sản sau đây là tài sản chung của vợ chồng:

- Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung;

- Những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung;

- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung của vợ chồng.

Câu 10. Pháp luật quy định như thế nào về việc thuận tình ly hôn?

- Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Câu 11. Vợ chồng anh C, chị B có 250 triệu đồng gửi tiết kiệm, mang tên anh C. Vì muốn mở quán cà phê, anh C bàn với vợ rút khoản tiền tiết kiệm trên để đầu tư. Chị B không đồng ý, vì muốn để phòng khi ốm đau. Anh C đã tự ý rút số tiền tiết kiệm đó vì cho rằng mình là chủ gia đình nên có toàn quyền quyết định những việc lớn trong gia đình. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng căng thẳng, anh chị thường xuyên to tiếng với nhau. Đề nghị cho biết, pháp luật quy định vấn đề này như thế nào?

- Điều 17 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật Hôn nhân và Gia đình và các luật khác có liên quan.

Khoản 1 Điều 29 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.

Khoản 1 Điều 35 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

Như vậy, việc anh C tự ý dùng số tiền tiết kiệm chung của vợ chồng để đầu tư kinh doanh mà không được sự đồng ý của vợ là vi phạm quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng.

Câu 12. Tòa án giải quyết thuận cho ly hôn theo yêu cầu của một bên trong các trường hợp nào?

- Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

- Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

- Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

- Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn của cha, mẹ, người thân thích khác khi một bên vợ, chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do vợ, chồng của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Câu 13. Vợ chồng anh S đã kết hôn được 8 năm, có 2 con chung. Do mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn được, anh S đã nộp đơn ly hôn. Tuy nhiên, trong thời gian chờ Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh S chơi xổ số và trúng thưởng 500 triệu đồng. Anh S cho rằng, số tiền trúng thưởng này không được tính vào tài sản chung của vợ chồng anh, chị khi ly hôn. Chị S không đồng ý, hai vợ chồng phát sinh tranh chấp. Vậy, theo quy định của pháp luật thì số tiền trúng thưởng này có thuộc tài sản chung của hai vợ chồng anh S?

- Theo quy định tại khoản 13, 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân và ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Do Tòa án mới thụ lý đơn yêu cầu xin ly hôn của anh S và đang trong giai đoạn xem xét, giải quyết mà chưa có quyết định cho ly hôn nên quan hệ hôn nhân giữa anh chị vẫn tồn tại.

Mặt khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật Hôn nhân và Gia đình; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Điều 9 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31-12-2014 của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình quy định thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân bao gồm: Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng; thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật…

Căn cứ vào các quy định nêu trên thì số tiền anh S trúng thưởng xổ số được tính là tài sản chung của vợ chồng.

Câu 14. Sau khi kết hôn, vợ chồng tôi sống chung với gia đình nhà chồng. Ngoài việc đóng góp tiền sinh hoạt chung hằng tháng, trong 2 lần ông bà sửa nhà, vợ chồng tôi đưa cho ông bà gần 500 triệu đồng. Chúng tôi cũng mua sắm nhiều vật dụng trong nhà như tủ lạnh, điều hòa, ti vi... Gần đây, mâu thuẫn giữa vợ chồng tôi ngày càng trầm trọng, nên tôi muốn ly hôn. Đề nghị cho biết, tôi có được chia tài sản trong khối tài sản của gia đình nhà chồng khi ly hôn không?

- Trường hợp của bà được quy định tại Điều 61 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Điều 61 quy định về việc chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình như sau:

- Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần 

trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Câu 15. Vợ chồng tôi ly hôn khi con gái được 3 tuổi. Con tôi ở với mẹ bên nhà ông bà ngoại. Khi tôi tới thăm con, gia đình nhà vợ đã cản trở việc cho tôi gặp con. Đề nghị cho biết pháp luật quy định vấn đề thăm nuôi con sau khi ly hôn như thế nào?

- Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cha mẹ có nghĩa vụ và quyền: Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Khoản 1 Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Khoản 1 Điều 72 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.

Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục con.

Theo các quy định trên, việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền của cả hai vợ chồng và vợ chồng đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Do đó, hành vi của vợ và gia đình nhà vợ của anh khi ngăn cản anh thực hiện quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con là vi phạm hành chính quy định tại Nghị định số 167/2013/NĐCP của Chính phủ.

Điều 53 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt đối với hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau như sau: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của Tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.

Nếu vợ và gia đình nhà vợ của anh tiếp tục ngăn cản anh thực hiện các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con, anh có quyền trình báo với cơ quan công an, chính quyền địa phương để có biện pháp can thiệp, giải quyết.

Câu 16. Đề nghị cho biết, pháp luật quy định như thế nào về quan hệ nhân thân, tài sản khi vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết mà trở về?

- Khi một người đã bị Tòa án ra quyết định tuyên bố là đã chết mà còn sống, trở về thì Tòa án sẽ ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết.

Về quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về được quy định tại Điều 67 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 như sau:

- Khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn.

Trong trường hợp có quyết định cho ly hôn của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật.

Trong trường hợp vợ, chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật. Quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về với người vợ hoặc chồng được giải quyết như sau:

+ Trong trường hợp hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực. Tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó;

+ Trong trường hợp hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như chia tài sản khi ly hôn.

Câu 17. Chị X có con là Y đã lớn và đã đi lấy chồng. Năm 43 tuổi, chị X lại sinh thêm con là N. Thật không may khi N được 5 tuổi thì cả hai vợ chồng chị X bị tai nạn giao thông và qua đời. Y đón em về nuôi. Tuy nhiên, hoàn cảnh kinh tế của vợ, chồng Y khó khăn, chồng Y cho rằng đúng ra trách nhiệm nuôi N là thuộc về ông, bà nội hoặc ông, bà ngoại nên có ý muốn gửi N sang cho ông, bà nội. Y không đồng ý. Đề nghị cho biết, trong trường hợp này, ai có trách nhiệm nuôi cháu N?

- Theo quy định tại Điều 105 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, anh, chị, em có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.

Còn về nghĩa vụ và quyền của ông, bà nội, ông, bà ngoại đối với cháu, thì khoản 1 Điều 104 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định, ông bà nội, ông bà ngoại có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu; trường hợp cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có anh, chị em nuôi dưỡng trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu.

Như vậy, nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu của ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại chỉ đặt ra khi cháu không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con và không có anh, chị, em nuôi dưỡng.

Trong trường hợp này, việc Y nhận chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục em là hoàn toàn đúng với bổn phận làm chị theo đạo lý và theo quy định của pháp luật.

Câu 18. Anh rể tôi đam mê cờ bạc, mỗi khi thua bạc về nhà thường hay chửi bới, đánh đập vợ con. Gần đây, anh bắt chị tôi đưa tiền học của con để đi đánh bạc. Chị tôi không đưa, anh đuổi đánh. Xin hỏi, hành vi của anh rể tôi có phải là bạo lực gia đình?

- Hành vi của người chồng trong tình huống này là hành vi bạo lực gia đình, thể hiện rất rõ qua hành động hay chửi bới, đánh đập vợ, con, yêu cầu đưa tiền, đặc biệt “cố ý đuổi đánh” để lấy tiền đi đánh bạc... hành vi này gây tổn hại đến tinh thần, sức khỏe người vợ, chính là hành vi bạo lực gia đình.

Các hành vi bạo lực gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 như sau:

- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;

- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

- Cưỡng ép quan hệ tình dục;

- Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;

- Chiếm đoạt, hủy hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;

- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;

- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.

Câu 19. Anh B nghiện rượu, mỗi khi say thường chửi bới, đánh đập vợ, con. Bà con dân phố, chi hội phụ nữ nhiều lần đến nhà anh khuyên giải, can ngăn, anh đều không tiếp với lý do đây là việc riêng gia đình, tự anh giải quyết. Vậy, việc làm của anh B có vi phạm pháp luật hay không? Theo quy định của pháp luật, trong trường hợp anh B vi phạm phải có nghĩa vụ gì?

- Việc anh B thường xuyên đánh đập vợ con không những ảnh hưởng đến tình cảm, hạnh phúc gia đình, ảnh hưởng xấu tới sự trưởng thành, phát triển của con mà còn là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm pháp luật về bạo lực gia đình. Sự khuyên giải, can thiệp của bà con dân phố, chi hội phụ nữ khu dân cư là cần thiết, hợp pháp. Đó vừa là tình cảm, đồng thời là trách nhiệm của cộng đồng vì hạnh phúc gia đình anh B, vì sự bình yên của cộng đồng. Anh B có nghĩa vụ tôn trọng sự can thiệp của cộng đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007.

Theo quy định tại Điều 4 thì người có hành vi bạo lực gia đình có nghĩa vụ "Tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay hành vi bạo lực". Ngoài ra, nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình còn được quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 4 của Luật, như sau:

- Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị;

- Chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối;

- Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo quy định của pháp luật.

Câu 20. Chị A ở nhà nội trợ nên bị gia đình chồng và chồng tỏ ý coi thường. Chồng chị luôn vô cớ nhiếc mắng, đánh đập mỗi khi không vừa ý. Có người khuyên chị nên báo cáo lên UBND xã và nhờ chính quyền can thiệp. Chị A muốn biết phải làm gì để bảo vệ quyền lợi bản thân?

- Để bảo vệ quyền lợi bản thân, chị cần báo cáo lên UBND xã để đề nghị can thiệp. Đây là quyền của nạn nhân bị bạo lực gia đình.

Khoản 1 Điều 5 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định, nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền sau đây:

- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;

- Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này;

- Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;

- Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật này;

- Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh các quyền nói trên, nạn nhân của bạo lực gia đình có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu.

Câu 21. Xin hỏi, pháp luật quy định như thế nào về trách nhiệm hoàn trả thiệt hại về tài sản cho người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình?

- Điều 6 Thông tư số 24/2011/TT-BVHTTDL ngày 30-12-2011 quy định Nhà nước hoàn trả thiệt hại về tài sản cho người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định số 08/2009/NĐ-CP trong trường hợp sau đây:

1. Người gây thiệt hại là người bị bệnh tâm thần đủ các điều kiện gồm:

a) Có Hồ sơ bệnh án trước thời điểm gây ra thiệt hại về tài sản cho người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình;

b) Có xác nhận của bệnh viện cấp huyện trở lên về tình trạng bệnh tật;

c) Không có người giám hộ hoặc có người giám hộ nhưng người giám hộ có đủ căn cứ chứng minh họ không có lỗi trong việc giám hộ người bị bệnh tâm thần hoặc người giám hộ có tên trong danh sách hộ nghèo theo Quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã còn hiệu lực tại thời điểm gây ra thiệt hại về tài sản.

2. Người gây bạo lực thuộc diện hộ nghèo là người phải có tên trong danh sách Quyết định công nhận gia đình nghèo của Chủ tịch UBND cấp xã còn hiệu lực tại thời điểm gây ra thiệt hại về tài sản và có căn cứ chứng minh không có tài sản để hoàn trả người bị hại cả trong hiện tại và tương lai.

Câu 22. Đề nghị cho biết, những hành vi bị nghiêm cấm theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình?

- Những hành vi bị nghiêm cấm theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 được quy định tại Điều 8, như sau:

- Các hành vi bạo lực gia đình quy định tại Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình.

- Cưỡng bức, kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình.

- Sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động bạo lực gia đình.

- Trả thù, đe doạ trả thù người giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình, người phát hiện, báo tin, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình.

- Cản trở việc phát hiện, khai báo và xử lý hành vi bạo lực gia đình.

- Lợi dụng hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình để trục lợi hoặc thực hiện hoạt động trái pháp luật.

- Dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực gia đình.

Câu 23. Vừa qua, chị A - vợ anh B (nhân viên văn phòng của cơ quan) đến nhờ công đoàn cơ quan anh B hoà giải mâu thuẫn giữa chị với mẹ chồng. Đề nghị cho biết, cơ quan có trách nhiệm hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp trong quan hệ gia đình không? Thẩm quyền tiến hành hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp này được quy định như thế nào?

- Điều 14, 15 Điều Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định về thẩm quyền hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp như sau: Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa người thuộc cơ quan, tổ chức mình với thành viên gia đình họ khi có yêu cầu của thành viên gia đình; trường hợp cần thiết thì phối hợp với cơ quan, tổ chức ở địa phương để tiến hành hòa giải. Tổ hòa giải ở cơ sở tiến hành hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở. UBND xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là UBND cấp xã) có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các tổ chức thành viên hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các tổ chức hòa giải ở cơ sở thực hiện hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình.

Theo đó, trường hơp chị A đến cơ quan anh B yêu cầu hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa chị với mẹ chồng chị thì cơ quan có trách nhiệm tiến hành hoà giải.

Câu 24. Xin hỏi, khi phát hiện hành vi bạo lực gia đình thì cần báo tin cho ai? Cơ quan, người tiếp nhận tin báo có trách nhiệm gì khi tiếp nhận tin báo?

- Theo quy định tại Điều 18 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, khi phát hiện hành vi bạo lực gia đình, người phát hiện bạo lực gia đình kịp thời báo tin cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc UBND cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi xảy ra bạo lực. Cơ quan công an, UBND cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư khi phát hiện hoặc nhận được tin báo về bạo lực gia đình có trách nhiệm kịp thời xử lý hoặc kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xử lý; giữ bí mật về nhân thân và trong trường hợp cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ người phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình.

Câu 25. Mặc dù phải vất vả kiếm sống nuôi cả gia đình song chị A vẫn thường xuyên bị chồng đánh đập, chửi bới do ghen tuông vô cớ. Một hôm, khi vừa thấy chị A và đồng nghiệp nam cùng cơ quan ra khỏi xe taxi đi vào công ty thì chồng chị A lao tới đánh chị. Chị A muốn làm đơn đề nghị UBND phường để nhờ can thiệp áp dụng các biện pháp cấm tiếp xúc. Xin hỏi, yêu cầu này của chị có thực hiện được hay không?

- Theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04-02-2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình thì biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình là việc không cho phép người có hành vi bạo lực gia đình thực hiện các hành vi sau đây:

- Đến gần nạn nhân trong khoảng cách dưới 30m; trừ trường hợp giữa người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân có sự ngăn cách như tường, hàng rào hoặc các vật ngăn cách khác, bảo đảm đủ an toàn cho nạn nhân.

- Sử dụng điện thoại, fax, thư điện tử hoặc các phương tiện thông tin khác để thực hiện hành vi bạo lực với nạn nhân.

Chậm nhất 12 giờ, kể từ khi nhận được đơn yêu cầu, Chủ tịch UBND cấp xã xem xét, quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc; trường hợp không ra quyết định thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu được biết.

Quyết định cấm tiếp xúc phải có chữ ký của người ra quyết định, phải được đóng dấu và ghi rõ:

- Ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định.

- Họ, tên, địa chỉ của người bị áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc;

- Căn cứ áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc;

- Lý do áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc;

- Thời gian áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc;

- Người được phân công giám sát việc thực hiện biện pháp cấm tiếp xúc.

Quyết định cấm tiếp xúc có hiệu lực ngay sau khi ký và được gửi cho người có hành vi bạo lực gia đình, nạn nhân bạo lực gia đình, người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi cư trú của nạn nhân bạo lực gia đình.

Điều kiện để Chủ tịch UBND cấp xã ra quyết định cấm tiếp xúc được quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 08/2009/NĐ-CP như sau:

Chủ tịch UBND cấp xã nơi xảy ra bạo lực gia đình quyết định cấm người gây bạo lực gia đình tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình trong thời hạn không quá 03 ngày khi có đủ các điều kiện sau đây:

a. Có đơn yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có đơn yêu cầu thì phải có sự đồng ý của nạn nhân bạo lực gia đình;

b. Đã có hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại đến sức khỏe hoặc đe dọa tính mạng của nạn nhân bạo lực gia đình;

c. Người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc.

Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định tại điểm a trên là cơ quan Văn hóa, Thể thao và Du lịch; cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội; cơ quan Công an; cơ quan nơi làm việc của nạn nhân hoặc tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội mà nạn nhân là thành viên.

Hành vi bạo lực gia đình quy định tại điểm b trên được xác định khi có một trong các căn cứ sau đây:

- Có giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về việc khám và điều trị thương tích do hành vi bạo lực gia đình gây ra;

- Có dấu vết thương tích trên cơ thể nạn nhân có thể nhận thấy rõ bằng mắt thường hoặc có dấu hiệu rõ ràng về hoảng loạn tinh thần của nạn nhân bạo lực gia đình;

- Có chứng cứ chứng minh có sự đe dọa gây tổn hại đến sức khỏe hoặc tính mạng của nạn nhân bạo lực gia đình.

Khi áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc phải ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi, người tàn tật.

Theo đó, chị A có thể căn cứ vào các quy định trên để đề nghị UBND phường X áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc.

Câu 26. Do không chịu nổi tính cách gia trưởng, nóng nảy của chồng, chị B đã bỏ về nhà mẹ đẻ sống và đơn phương xin ly hôn. Tuy nhiên, anh A không đồng ý và thường xuyên đến nhà mẹ vợ chửi bới, lăng mạ và đe dọa đánh chị B nếu chị không về. Chị B muốn biết trong thời gian chờ Toà án giải quyết ly hôn, anh A có bị cấm tiếp xúc, gây phiền hà cho chị không?

- Tại Điều 21 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định như sau:

a. Toà án đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa nạn nhân bạo lực gia đình và người có hành vi bạo lực gia đình quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong thời hạn không quá 4 tháng khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Có đơn yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có đơn yêu cầu phải có sự đồng ý của nạn nhân bạo lực gia đình;

 Hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại đến sức khỏe hoặc đe doạ tính mạng của nạn nhân bạo lực gia đình;

- Người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc.

b. Quyết định cấm tiếp xúc có hiệu lực ngay sau khi ký và được gửi cho người có hành vi bạo lực gia đình, nạn nhân bạo lực gia đình, Chủ tịch UBND cấp xã, người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi cư trú của nạn nhân bạo lực gia đình và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

c. Toà án nhân dân đã ra quyết định cấm tiếp xúc huỷ bỏ quyết định đó khi có đơn yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình hoặc khi nhận thấy biện pháp này không còn cần thiết.

d. Trong trường hợp gia đình có việc tang lễ, cưới hỏi hoặc các trường hợp đặc biệt khác mà người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân phải tiếp xúc với nhau thì người có hành vi bạo lực gia đình phải báo cáo với người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi cư trú của nạn nhân bạo lực gia đình.

đ. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp cấm tiếp xúc quy định tại Điều này được thực hiện tương tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự về các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Như vậy, chị B có thể tham khảo quy định trên để đề nghị Toà án ra quyết định áp dụng biện pháp cấm anh A tiếp xúc với mình.

Câu 27. Người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình sẽ bị xử lý như thế nào?

- Tại Điều 42 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình như sau:

- Người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

 Cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân có hành vi bạo lực gia đình nếu bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của Khoản 1 Điều này sẽ thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó để giáo dục.

- Chính phủ quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính về phòng, chống bạo lực gia đình, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.

Câu 28. Đề nghị cho biết các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của Luật Bình đẳng giới?

Điều 10 Luật Bình đẳng giới quy định các hành vi bị nghiêm cấm, gồm:

- Cản trở nam, nữ thực hiện bình đẳng giới.

- Phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức.

- Bạo lực trên cơ sở giới.

- Các hành vi khác bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật. Theo đó, mọi hành vi phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức đều vi phạm pháp luật về bình đẳng giới và tùy vào tính chất và mức độ của hành vi vi phạm mà người có hành vi sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Câu 29. Nữ giới tham gia lãnh đạo quản lý trong lĩnh vực chính trị là một trong những chỉ tiêu quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ xã hội và bình đẳng giới. Xin cho biết, bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị được pháp luật quy định như thế nào?

- Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị và trong quá trình hoạch định chính sách luôn được Đảng và Nhà nước ta ghi nhận trong các chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Điều 11 Luật Bình đẳng giới quy định về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị như sau:

- Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội.

- Nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức.

- Nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

- Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức.

- Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị gồm:

+ Bảo đảm tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;

+ Bảo đảm tỷ lệ nữ trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

(Còn tiếp)

(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Hỏi - đáp pháp luật hôn nhân và gia đình, phòng chống bạo lực gia đình và bình đẳng giới