Rất nhiều cặp đôi đã nên duyên từ những đêm chèo...

Làng tôi ngày trước thật khó có thể hình dung ra hội làng mùa xuân lại không có vài ba đêm biểu diễn chèo. Cái thuở vàng son của những vở chèo cổ như: Quan Âm Thị Kính, Kim Nham, Tống Trân Cúc Hoa… mới chỉ đi qua được vài chục năm. Ngày nay có hiện đại hơn với bao trò chơi vui hơn nhưng nhiều người già vẫn còn thổn thức khi bất chợt nghe được một tiếng trống chèo, một câu hát chèo văng vẳng đâu đó. Những điệu chèo mang đậm ký ức về một miền quê.
Khi cây lúa vừa bén rễ, khi công việc nông trang nhàn rỗi ấy là lúc hội làng được mở kèm theo những đêm chèo say đắm lòng người. Nhiều bậc cao niên đến giờ vẫn còn nhớ nguyên vẹn câu ca: “Ăn xong rồi lại nằm khèo. Nghe tiếng trống chèo bế bụng đi xem”. Háo hức nhất vẫn là đám trai gái. Đêm chèo là cái cớ để hẹn hò gặp gỡ. Người làng với người làng. Làng em với làng anh. Rất nhiều cặp đôi đã nên duyên từ những đêm chèo như thế.
Một xã nhiều khi có tới mấy chiếng chèo. Mỗi chiếng chừng dăm bẩy người. Một người đóng nhiều vai trong cùng vở diễn. Họ là những nông dân chân lấm tay bùn, ban sáng còn mê mải bừa xong, cấy xong thửa ruộng cho kịp thời vụ. Buổi chiều lại vội vã đến sân đình tập dượt lần cuối trước khi vở chèo công diễn.
Người làng với nhau cả, chạm mặt nhau suốt ngày. Vậy mà khi cánh màn nhung được kéo lên, diễn viên đẹp ra đã đành bởi được son phấn tô điểm, áo quần lộng lẫy, khán giả dường như cũng đẹp trai, xinh gái. Diễn viên nhìn khán giả. Khán giả ngắm diễn viên. Như lạ như quen.
Không ai nhớ chiếng chèo làng tôi có từ bao giờ. Nhưng điều chắc chắn nó phải được phát tích từ ước mơ và hy vọng của người nông dân. Bởi nó đa thanh, đa nghĩa, giàu chất tự sự, trữ tình. Mảnh đất làng tôi biết bao nhọc nhằn từ thuở lập làng lập tổng, phải luôn đối đầu với thiên tai địch họa. Muốn tồn tại phải vượt lên nghịch cảnh. Người làng tôi vịn vào câu chèo mà đứng dậy. Những câu chèo mộc mạc, giản đơn đã nâng bước người làng tôi.
Người làng tôi chưa thể phân biệt được đâu là “chèo sân đình”, đâu là “chèo hiện đại”. Những “nghệ sĩ” nông dân làng tôi tay múa còn cứng, giọng hát chưa nhuần, tiếng đàn chưa ngọt. Cũng chưa ai đủ trình độ ngẫu hứng để bẻ làn, nắn điệu. Lại càng không có những vị đạo diễn nổi danh. Nhưng đây là “của nhà làm ra” như hạt lúa, củ khoai ăn cả đời không biết chán.
Rồi chiến tranh lan tới. Không còn hội làng. Không còn những đêm chèo náo nức. Tiếng bom, tiếng gầm rú của máy bay địch, tiếng đạn pháo xé rách trời đêm thay cho tiếng trống tiếng đàn. Dân làng phiêu tán. Người ra trận, kẻ kiếm ăn xa. Trong muôn vàn nỗi lo còn mất, từ sâu thẳm tâm hồn người làng tôi vẫn nhớ da diết ngày hội làng cùng những đêm chèo tưng bừng đàn sáo. Mà vở chèo ấy, câu hát ấy phải do chính người làng mình biểu diễn xem mới thật đã đời. Xin đừng trách người làng tôi cục bộ địa phương. Đã yêu, đã quý, đã coi đó là hồn cốt quê mình thì tránh sao được thiên vị.
Chừng hai, ba chục năm nay hội làng tôi mở lại. Vẫn có những đêm chèo. Chuyên nghiệp hẳn hoi. Toàn những diễn viên trẻ đẹp nhưng lại không phải người làng mình. Xem mà cứ như thấy nó giả giả thế nào ấy. Lớp già làng tôi hết lòng ráng giữ. Một cụ bảo: “Không thể để chiếng chèo làng mình mai một lặng lẽ như vậy”. Rồi mọi người cũng lập ra tốp chèo nọ, gánh chèo kia. Tuy vậy tất cả chỉ là sự níu kéo. Chẳng biết được bao lâu nữa.
Tự nhiên tôi nhớ tới hình ảnh ông đồ già cong lưng ngồi viết câu đối trong gió mưa se sắt của Vũ Đình Liên mà lòng man mác. Đâu rồi những tiếng đàn, tiếng sáo cùng những câu chèo âm vang trong ký ức của người làng tôi?
NGUYỄN SỸ ĐOÀN