Công tác số hóa dữ liệu đất đai tại Hải Phòng đang được các địa phương tăng tốc thực hiện nhưng gặp nhiều khó khăn.

Hải Phòng đang trong giai đoạn tăng tốc chuyển đổi số, lấy việc hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai làm nền tảng cho sự phát triển đô thị bền vững.
Việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 57-
NQ/TW) và Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị, là chìa khóa để minh bạch hóa quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường, tạo tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, khi chuyển từ kế hoạch sang thực thi, quá trình số hóa đang gặp những rào cản mang tính hệ thống, đòi hỏi sự nhận diện chính xác và những giải pháp tháo gỡ quyết liệt từ cả cấp chính quyền cơ sở lẫn các sở, ngành chuyên môn theo đúng tinh thần chỉ đạo của thành phố.
.jpg)
Thực tế tại các địa phương cho thấy việc hiện đại hóa dữ liệu không đơn thuần là áp dụng phần mềm. Sau Nghị quyết số 1669/NQ-UBTVQH15, nhiều đơn vị hành chính thực hiện sáp nhập nguyên trạng tạo ra những thách thức không nhỏ về quản lý hồ sơ.
Tại phường Dương Kinh, việc triển khai kê khai đất đai đang đối mặt với áp lực nhân lực và khối lượng công việc lớn. Dù Ban Chỉ đạo được thành lập, nhưng việc xử lý dữ liệu 2.477 thửa đất giao thông, thủy lợi mới chỉ là bước khởi đầu.
Những "nút thắt" thực sự nằm ở hàng nghìn thửa đất ở và đất nông nghiệp thuộc quyền sử dụng của các gia đình, cá nhân. Áp lực này phản ánh khối lượng công việc phức tạp, khi cán bộ địa phương phải đối mặt với sự chồng chéo của hồ sơ cũ và thực trạng sử dụng đất biến động theo thời gian.
Tương tự, tại xã Hà Nam (địa phương được sáp nhập từ các xã Thanh Xuân, Liên Mạc, Thanh Lang và một phần Thanh An, Hòa Bình), tình hình thực tế phản ánh "bức tranh" khó khăn phức tạp hơn. Với tổng số 37.301 thửa đất theo sổ mục kê, trong đó có 23.548 thửa cần thực hiện đăng ký đất đai lần đầu, xã Hà Nam đang đứng trước áp lực rà soát lớn.
Riêng nhóm đất nông nghiệp đã chiếm tới 20.000 thửa, trong khi đất công và các loại đất phi nông nghiệp cũng chiếm con số không nhỏ. Việc kê khai 5.000 trên tổng số 5.971 đơn đăng ký nông nghiệp (đạt 83,7%) đến ngày 16/8/2026 cho thấy nỗ lực rất lớn của chính quyền
Nhưng những vướng mắc phát sinh từ dữ liệu lịch sử lại là "rào cản" thực sự. Khó khăn lớn nhất mang tính lịch sử là sự thiếu đồng bộ của dữ liệu cũ sau sáp nhập. Tại Hà Nam, việc kiểm tra các phương án dồn điền, đổi thửa trước đây cho thấy nhiều hồ sơ không còn bản vẽ gốc hoặc không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Hệ quả là số liệu diện tích trên sổ mục kê và thực tế sử dụng có sự chênh lệch lớn. Đặc biệt, việc cấp giấy chứng nhận sau dồn đổi tại xã Thanh Xuân (cũ) với 1.095 giấy chứng nhận đã cấp nhưng chỉ thu hồi được 325 giấy chứng nhận cho thấy sự đứt gãy trong quản lý tài liệu.
Việc cấp giấy chứng nhận sai đối tượng (đứng tên cá nhân "ông", "bà" thay vì đại diện hộ gia đình theo Nghị quyết 03) đang trở thành "nút thắt" pháp lý khiến việc xác lập quyền sử dụng đất trở nên nan giải. Đây cũng là thực trạng nhiều địa phương trên địa bàn thành phố như Kiến Hưng, Kiến Minh... gặp phải và đang từng bước tháo gỡ.
Bên cạnh bài toán về dữ liệu lịch sử, hệ thống phần mềm VBDLIS đang bộc lộ những hạn chế kỹ thuật đáng kể. Dù được kỳ vọng là "chìa khóa" của số hóa, song việc vận hành lại thiếu tính đồng bộ giữa dữ liệu không gian và thuộc tính.

Tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Vĩnh Thịnh, với khoảng 4.600 hồ sơ trong nửa đầu năm 2026, cán bộ vẫn gặp khó khăn khi khai thác thông tin công dân đã từng được số hóa. Do cơ sở dữ liệu dùng chung chưa thông suốt, các cơ quan đôi khi vẫn yêu cầu người dân cung cấp lại giấy tờ, gây lãng phí thời gian. Điều này chứng minh dù thành phố đạt tỷ lệ giải quyết hồ sơ đúng và trước hạn trên 99%, nhưng nếu các dữ liệu nền tảng chưa đồng bộ triệt để, các điểm nghẽn hành chính vẫn tồn tại.
Đối với hệ thống VBDLIS, theo thông tin từ xã Hà Nam, tính đến giữa tháng 8/2026, mới chỉ có 4.230 thửa đất được cập nhật lên hệ thống trong tổng số hàng chục nghìn thửa cần xử lý.
Sự lệch pha giữa diện tích trên bản đồ không gian và diện tích trong hồ sơ thuộc tính (do việc trừ diện tích đất thu hồi dự án không đồng nhất) dẫn đến tình trạng lỗi dữ liệu hệ thống. Khi cán bộ cơ sở thực hiện kê khai, phần mềm thường xuyên chạy chậm và phát sinh lỗi, khiến việc trích xuất và đồng bộ hoá dữ liệu bị đình trệ, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ chung của toàn thành phố.
Để Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị thực sự đi vào đời sống, Hải Phòng cần lộ trình chuyển đổi đồng bộ, gắn liền với các định hướng lớn về chính quyền số.
Theo đề xuất của Trưởng Phòng Xây dựng và Môi trường phường Dương Kinh Nguyễn Hữu Dũng, trước hết, thành phố cần tập trung tái cấu trúc hạ tầng kỹ thuật và nâng cao năng lực vận hành hệ thống số.
Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với đơn vị cung cấp phần mềm VBDLIS cần ưu tiên nâng cấp cấu hình máy chủ, bảo đảm băng thông đường truyền, xóa bỏ tình trạng "nghẽn mạch" dữ liệu vào giờ cao điểm.
Việc xây dựng một bộ chỉ tiêu chuẩn hóa dữ liệu là yêu cầu cấp thiết để thống nhất phương thức nhập liệu, bảo đảm sự khớp nối hoàn hảo giữa tọa độ không gian và thông tin thuộc tính, chấm dứt tình trạng chênh lệch diện tích do lịch sử để lại.
Còn theo ông Trần Ngọc Vinh, nguyên Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng, song hành với kỹ thuật, Hải Phòng cần linh hoạt hóa quy trình pháp lý đối với đất đai sau sáp nhập bằng cách vận dụng tối đa các cơ chế đột phá của Luật Đất đai năm 2024.
Chính quyền thành phố cần ban hành khung hướng dẫn đặc thù đối với những tồn tại lịch sử về dồn điền, đổi thửa, đặc biệt là đối với các thửa đất nông nghiệp không có hồ sơ gốc nhưng quá trình sử dụng ổn định, không tranh chấp.
Đối với những trường hợp cấp giấy chứng nhận sai đối tượng, thay vì áp dụng quy trình xử lý hành chính, cần xây dựng cơ chế "cấp đổi nhanh" gắn với trách nhiệm xác minh của tổ công tác cấp xã, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người dân, hạn chế tối đa việc đi lại nhiều lần.

Sự tham gia của các đơn vị tư vấn chuyên nghiệp trong khâu kê khai tại các địa bàn trọng điểm cần được giám sát chặt chẽ, coi đây là khâu chuẩn hóa dữ liệu đầu vào cốt lõi, bảo đảm tính pháp lý trước khi đưa lên hệ thống số.
Công tác quản trị hành chính cần được siết chặt theo mô hình "6 rõ" (rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả).
Sở Nông nghiệp và Môi trường thiết lập kênh hỗ trợ kỹ thuật trực tuyến 24/7 để tiếp nhận, xử lý tức thời các vướng mắc của cơ sở. Quan trọng hơn, cần đẩy mạnh kết nối liên thông dữ liệu giữa Trung tâm Phục vụ hành chính công với hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai, thực hiện nghiêm mục tiêu "không yêu cầu công dân cung cấp lại giấy tờ" trong các giao dịch thủ tục hành chính.
THU HẰNG